
Thứ Bảy, 17 tháng 10, 2009
Thứ Ba, 13 tháng 10, 2009
Huy hiệu của các Đức Giám mục Việt Nam

Đức Tổng Giám mục Hà Nội Giuse Ngô Quang Kiệt.
Đức Giám mục phụ tá Hà Nội Laurenxo Chu Văn Minh
Đức Giám mục Vinh Phaolo Maria Cao Đình Thuyên
Đức Giám mục Lạng Sơn Giuse Đặng Đức Ngân
ĐứcGiám mục Hưng Hóa Anton Vũ Huy Chương
Đức Giám mục Bắc Ninh Cosma Hoàng Văn Đạt
Đức Giám mục Phát Diệm Giuse Nguyễn Năng
Đức Giám mục Thanh Hóa Giuse Nguyễn Chí LinhGiáo tỉnh Huế
Đức Giám mục Đà Nẵng Giuse Châu Ngọc Tri
Đức Giám mục Kon Tum Micael Hoàng Đức Oanh
Đức Giám mục phó Nha Trang Giuse Võ Đức Minh
Đức Giám mục phụ tá Huế Phanxico Xavie Lê Văn Hồng
Đức cố Giám mục Qui Nhơn Huỳnh Đông CácGiáo Tỉnh Sài Gòn
Đức cố Hồng Y Phanxico Xavie Nguyễn Văn Thuận. Nguyên Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh về Hòa bình và công lý
Đức Hồng Y Tổng Giám mục Sài Gòn Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn.
Đức Giám mục phụ tá Sài Gòn NguyễnVăn Khảm
Dức Giám mục Phan Thiết Giuse Vũ Duy Thống
Đức Giám mục Đà Lạt Phê rô Nguyễn Văn Nhơn
Đức Giám mục Xuân Lộc Đaminh Nguyễn Chu Trinh
Đức Giám mục Long Xuyên Gioan Baotixita Bùi Tuần
Đức Giám mục Long Xuyên Giuse Trần Xuân Tiếu
Đức Giám mục Vinh Long Toma Nguyễn văn Tân
Đức Giám mục Mỹ Tho Phaolo Bùi Văn Đọc
Đức Giám mục Vĩnh Long Giacobe Nguyễn Văn MầuThứ Tư, 5 tháng 8, 2009
Thánh Đa Minh (1170-1216)
Ngày nay, các linh mục đều là những nhà giảng thuyết, nhưng cách đây hơn 800 năm, chỉ các bậc giám mục trở lên mới có quyền giảng! Nói như vậy để chúng ta hiểu tại sao dòng Đa Minh được gọi là dòng giảng thuyết, và đặc sủng của dòng Đa Minh quả là một cuộc cách mạng to lớn vào thời đó.
Đa Minh sinh năm 1170 tại Caleruega, thuộc dòng tộc Guzman, nên được gọi là Đa Minh Guzman. Guzman là một dòng tộc vị vọng tại Tây ban nha vào thời trung cổ. Thân phụ ngài là ông Felix, một kiếm sĩ "tuyệt vời và dịu dàng." Bà cố là Joanna d'Aza, xuất thân từ gia đình cao quý. Bà cố đạo đức và được đức giáo hoàng Leo XII tuyên phong chân phước. Bên cạnh Đa Minh, bà cố còn có một người con nữa cũng là chân phước dòng Đa Minh: Mannes. Thực là gia đình đạo hạnh: một thánh, hai chân phước. Cũng nên biết rằng, người anh lớn của Đa Minh, linh mục triều, suốt đời làm việc trong nhà thương giúp đỡ người nghèo
Nhiều dấu lạ xẩy ra khi Đa Minh chào đời. Theo thánh Jordan Saxony, vị ký lục về cuộc đời Đa Minh kể lại, thì khi đang mang thai, bà cố mơ thấy mình cho chào đời một con chó ngậm bó đuốc đang cháy sáng và mang lửa đến khắp thế giới. Rồi trong ngày thánh nhân rửa tội, mẹ đỡ đầu trông thấy trên trán chú bé một ngôi sao sáng, chiếu tỏa chung quanh. Do đó tại sao ngày nay khi tạc tượng thánh Đa Minh, người ta cũng tạc luôn tượng con chó đang ngậm đuốc sáng nằm dưới chân, còn trên trán ngài thì có ngôi sao sáng.
Cuộc đời thánh nhân lúc còn nhỏ cũng bình thường như chúng ta. Năm lên bẩy, ngài được gửi đến ở với cậu là linh mục đang coi xứ gần Caleruega. Năm 14 tuổi, chú từ giã gia đình và bố mẹ để lên học tại Palencia, là trường học nổi tiếng nhất tại Tây ban nha lúc bấy giờ. Ngay từ hồi nhỏ, chú đã biết dung hòa việc học hành với đời cầu nguyện và các bổn phận tông đồ. Có những lần chú đã bán các sách học để gíup đỡ người nghèo. Sách vở lúc chưa có nhà in, là những phẩm vật rất quý giá, nhưng người nghèo với chú còn quý giá hơn. Cũng đã hai lần chú muốn bán mình để có tiền chuộc những người bị bắt làm nô lệ. Phải chăng đó là dấu hiệu cho thấy chú sẽ dung hòa đời sống chiêm niệm và hoạt động trong tương lai?
Hết trung học, chú xin đi tu và có lẽ được truyền chức vào năm 1194. Sau đó, cha Đa Minh xin làm kinh sĩ tại nhà thờ chính tòa Osma. Kinh sĩ có bổn phận chuyên lo đọc kinh thay cho toàn giáo phận, nhất là thay cho các linh mục hoạt động. Hội kinh sĩ theo tinh thần tu luật của thánh Augustine, sống đời ẩn thân. Với lòng đạo đức và khôn ngoan, cha Đa Minh trở nên rường cột cho hội. Vì vậy, chỉ 2 năm sau, cha được chỉ định làm bề trên hội kinh sĩ. Đây là một vinh dự lớn lao cho 1 linh mục trẻ. Kinh sĩ Đa minh thường mang trên tay sách phúc âm theo thánh Matthêu, các thư của thánh Phaolô và sách các giáo phụ.
CHUẨN BỊ LẬP DÒNG
Vào năm 1213, đức cha địa phận và Đa Minh được ủy thác sứ mạng thu xếp cuộc hôn nhân của hoàng tử xứ Marches và công chúa Đan mạch. Trên đường đi Đan mạch, hai ngài phải băng qua miền nam nước Pháp. Có lẽ cuộc du hành này đã thay đổi cuộc đời Đa Minh. Tại Toulouse, trong một quán trọ, ngài đã nhận ra rằng, người chủ quán trọ là một người bỏ Công giáo theo nhóm Albigensê. Cũng nên biết từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIV, nhóm Albigensê đã rất thành công trong việc thuyết phục người khác theo họ. Vào thời đại mà giáo hội miền nam nước Pháp bị tục hóa, khi các giám mục xa cách dân chúng, ăn mặc sang trọng, đi trên xe tứ mã, sống đời xa hoa, thì triết lý của Albigensê, dựa theo tinh thần lạc giáo Manikêu, quả là hấp dẫn với một số người. Gọi họ là Albigensê vì nhóm này khởi nguồn từ một thành phố miền nam Pháp tên là Albi. Họ chủ trương nơi con người có hai thái cực: tốt do Chúa tạo nên, xấu do Satan chiếm đoạt. Để loại trừ Satan, con người cần diệt dục, không nên lấy vợ, lấy chồng, không ăn thịt, cá và chỉ ăn rau cỏ. Cuộc sống càng đơn sơ, càng trở về với thiên nhiên càng tốt. Trong khi các giám mục địa phương, linh mục Cistercien ăn mặc sang trọng, thì giáo sĩ nhóm Albigensê ăn vận đơn sơ, đi chân không, mặc quần áo đơn giản. Do đó, họ có một bề ngoài gần gũi với đức khó nghèo của Thánh Kinh hơn. Điều quan trọng hơn cả là về tín lý họ chối bỏ 3 ngôi Thiên Chúa. Miền nam Pháp, Ý và Tây ban nha bị ảnh hưởng rất mạnh của nhóm này.
Đa Minh để cả đêm nói truyện với người lạc giáo. Ngài nhận thấy ông chủ quán là người có lòng thành nhưng bị nghe tuyên truyền sai lạc. Đến sáng, sau khi cầu nguyện hồi lâu thì bỗng dưng người chủ quán đổi lòng. Ông xin trở lại Công giáo. Việc trở lại này đã trở thành động lực lớn thúc đẩy Đa Minh lập dòng tu chuyên lo truyền giáo. Truyền thống kể lại rằng chính tại nhà này, Đa Minh đã cầu nguyện bằng phương cách sắp xếp những ý tưởng Thánh Kinh thành một chuỗi giúp cho ngay cả người đơn sơ cũng có thể lãnh hội được. Đây là bước khởi nguồn của tràng hạt Mân Côi sau này.
Chuyến đi của đức giám mục và của Đa Minh thành công tốt đẹp. Hai vị trở về báo Tin Mừng cho nhà vua và chuẩn bị hôn lễ. Nhà vua lại cử đức giám mục và Đa Minh lên đường đón công chúa cho hoàng tử của mình, nhưng lần du hành thứ hai này mang nhiều nét buồn. Hai vị đến hoàng cung đúng lúc nghe tin công chúa mới lìa đời. Sau đó hai vị cùng sang Roma thăm giáo đô. Cũng nên biết, giám mục địa phận Osma, đức cha Diego, là một nhân vật đạo đức và đặc biệt. Ngài đã làm trưởng hội kinh sĩ tiền nhiệm của Đa Minh. Nhận thấy có nhiều người lạc giáo, khi triều kiến đức giáo hoàng, ngài xin từ nhiệm giám mục để có thêm thời giờ chuyên lo truyền giáo. Tấm gương sáng càng khiến Đa Minh hăng hái hơn thi hành ước mộng. Tuy nhiên, đức giáo hoàng Innocent III không đồng ý. Ngược lại ngài ủy thác hai vị sang miền Languedoc, hợp lực cùng với các tu sĩ Cistercien chống lại nhóm Albigensê. Đức cha Diego, ngay khi nhận nhiệm vụ mới, ra lệnh cho các tu sĩ Cistercien phải sống đời khó nghèo. Kết quả trông thấy thực rõ rệt. Số người xin trở lại Công giáo tăng lên rất nhanh. Riêng Đa Minh thì còn dành nhiều thời giờ để tranh luận với nhóm lạc giáo. Không cãi nổi với nền thần học chắc chắn, sự thông thái và lý luận sâu sắc của Đa Minh, những người lạc giáo đe dọa giết ngài. Không sợ, Đa Minh tiếp tục rao giảng Tin Mừng cách can đảm. Ngài chọn Prouille làm trụ sở chính rồi từ đó đi đến các miền Fanjeaux, Montpellier, Servian, Beziers, và Carcassonne. Chính tại Prouille vào năm 1206 mà thánh nhân đã lập hội dòng nữ Đa Minh đầu tiên. Ngài biết có nhiều phụ nữ nhiệt thành nhưng vì lầm lạc đã theo nhóm Albi. Họ cần được nâng đỡ. Sau khi trở lại, các phụ nữ này đã xây nhà dòng và chuyên giáo dục các trẻ Công giáo. Đây là cơ sở đầu tiên của dòng nhì Đa Minh trên thế giới.
Năm 1208 đáng được coi là năm "bản lề" của Đa Minh. Vào ngày 15 tháng 1, cha Pierre de Castelnau, vị tông tòa dòng Cistercien bị ám sát chết. Thánh Simon de Montfort quyết định mở cuộc thánh chiến chống lại nhóm Albigensê. Riêng Đa Minh thì thương xót những người lạc giáo hơn là ghét bỏ họ. Ngài cũng quyết định mở cuộc thánh chiến nhưng không trên mặt trận võ khí mà trên mặt trận truyền giáo. Chính ngài đã gặp thánh Simon và hai người trở thành bạn thân đến mãn đời.
PHỔ BIẾN KINH MÂN CÔI
Trận thánh chiến rất thành công cho quân đội Công giáo. Các sử gia nói rằng nơi những trận chiến này kinh Mân côi được đọc lần đầu tiên, kinh Mân côi trở thành khí giới thiêng liêng bảo vệ đạo.
Cuộc đời và sự thánh thiện của thánh nhân nổi bật đến độ ba giáo phận xin ngài làm giám mục: năm 1212, địa phận Bezier; rồi địa phận St. Lizier, cuối cùng vào năm 1215 là địa phận Navarre. Nhưng Đa Minh tuyệt đối xin từ chối những vinh dự trên. Tấm gương của đức giám mục địa phận Osma là Diego vẫn còn in đậm trong tâm trí. Ngài nói nếu bị ép làm giám mục, ngài sẽ trốn đi ngay dù trong đêm tối!
Tuy nhiên, không phải lúc nào Đa Minh cũng rao giảng thành công đâu. Vào những năm 1213 và 1214 lịch sử ghi lại ngài truyền giáo tại miền Carcassonne, nhưng rất ít người trở lại và ngược lại bị nhiều chống đối.
DÒNG TU MỚI
Đến năm 1214 ngài trở về Toulouse, Pháp quốc. Tại nơi đây ngài thực hành quyết định thành lập dòng tu chuyên lo giảng thuyết. Nổi tiếng đạo đức và khôn ngoan nên nhiều thanh niên ngưỡng mộ tìm đến với ngài. Sau khi đức cha Toulouse cho phép, Đa Minh tập họp những môn đệ đó thành một cộng đoàn. Đến năm 1215, ngài chính thức theo giáo luật thành lập nhà dòng trong giáo phận Toulouse với mục đích truyền bá đức tin và luân lý chân chính. Cũng trong năm này ông Pierre Seilan, một người giầu có miền Toulouse, đi theo thánh Đa Minh. Pierre dâng tặng cho thánh nhân nhiều sở hữu. Nhờ vậy ngày 25 tháng 4 năm 1215, tu viện đầu tiên của dòng được thành lập.
Thoạt đầu, dòng chỉ mang tính cách là "dòng địa phận". Đa Minh mong muốn dòng mới sẽ đi truyền bá Tin Mừng khắp thế giới. May mắn thay, vào tháng 11 năm 1215, công đồng chung tại Roma được triệu tập nhằm mục đích "sửa chữa những đồi phong bại tục, dẹp tan lạc giáo và củng cố đức tin chân chính." Điều khoản giáo luật số X của công đồng còn khiển trách cách mạnh mẽ một số giám mục đã quên lãng bổn phận rao giảng, và khuyến khích việc ủy thác cho một số vị có khả năng rao giảng lời Chúa. Những lời tuyên bố đó đúng với tôn chỉ dòng Đa Minh. Tuy nhiên, nên lưu ý rằng, khi công đồng đề nghị "một số vị có khả năng" không có nghĩa là nói đến các linh mục, hoặc cụ thể hơn, các linh mục dòng Đa Minh, một dòng tu còn non trẻ.
Trong khi chân trời mới mở rộng cho Đa Minh, thì một biến cố khác không vui xẩy ra: Công đồng chung cấm việc lập thêm dòng tu mới! Không nản lòng, Đa Minh triệu tập các anh em, thông báo quyết định của đại công đồng. Các tu sĩ Đa minh, cùng đồng ý là, thay vì dùng tu luật mới, thì sẽ theo tu luật thánh Augustino. Cho đến nay, tu luật thánh Augustinô vẫn là tu luật nền tảng của dòng, và các tu sĩ Đa Minh vẫn phải học tu luật thánh Augustinô trước khi học hiến pháp dòng. Tháng 8 năm 1216, Đa Minh xin phép gặp đức giáo hoàng, và ngày 22 tháng 12 cùng năm, đức giáo hoàng chính thức chuẩn y dòng tu có tên hiệu "Dòng giảng thuyết". Cũng nên nhắc nơi đây câu truyện rất thú vị. Một hôm, đức giáo hoàng trong giấc mơ, thấy đền thờ Latêranô bị nghiêng, thì có hai thanh niên bước đến kề vai nâng đỡ. Buổi sáng cùng ngày, ngài có hẹn gặp hai tu sĩ tên là Đa Minh và Phanxicô. Nhớ lại giấc mơ, nhìn lại khuôn mặt, ngài biết ngay rằng đây là dấu hiệu mà Chúa báo trước cho ngài: hai tu sĩ trẻ này sẽ là người nâng đỡ giáo hội. Vào thế kỷ 13, đền thờ Lateranô chính là biểu tượng của giáo hội như đền thờ thánh Phêrô thời nay. Trong thời gian ngắn ở tại Roma, đức giáo hoàng cũng nhờ thánh Đa Minh đi giúp tái lập truyền thống nghiêm ngặt nơi các nhà dòng nữ. Đa Minh đã làm cho đức giáo hoàng rất hài lòng trong việc giúp thăng tiến đời sống tinh thần tại các nhà dòng này.
ĐẶC SỦNG CỦA DÒNG
Đến ngày 15 tháng 8 năm 1217, Đa Minh trở về Prouille thông báo Tin Mừng cho các anh em. Ngay sau đó, Đa Minh đưa ra một quyết định được coi là táo bạo: Ngài sai 17 môn đệ đi truyền giáo toàn miền Âu châu và nhất là giảng thuyết tại các trường đại học. Tuy có một số người phản đối, cho rằng các tu sĩ còn quá non trẻ, nhưng thời gian đã cho thấy quyết định của Đa Minh hoàn toàn đúng. Thứ nhất, ngài tin tưởng các môn đệ của mình; thứ hai Chúa Thánh linh đã không ngừng làm việc nơi 17 tu sĩ Đa Minh đầu tiên, đến nỗi chỉ một năm sau, vào ngày 3 tháng 12 năm 1218, đức giáo hoàng Honorio III viết tông thư giới thiệu dòng cho toàn thể các giám mục, viện phụ, bề trên tu viện, xin các vị nâng đỡ và cùng làm việc chung với anh em trong dòng. Truyền giáo nơi các trường đại học trở thành một đặc sủng của dòng. Đa Minh muốn các tu sĩ có một trình độ cao về học vấn. Có lẽ hướng đi đó do kết quả thánh nhân thâu thập được khi làm việc tại trường đại học Palencia. Cho đến nay, đây vẫn là một trong những đặc điểm của dòng. Trong thời ban sơ, đa số tu viện đều được thành lập chung quanh trường đại học, vừa để dễ làm việc mục vụ, vừa để dễ cho các anh em đi học. Các trường đại học Paris (Pháp quốc) và Bologna (Tây ban nha) đã là những nơi "thử lửa" đầu tiên của dòng.
Tại Roma, đức giáo hòang Honoriô, thích thú trước những thành công của anh em thuyết giáo, dành tu viện Santa Sabina cho dòng Đa Minh chịu trách nhiệm. Ngày nay Santa Sabina là nhà Mẹ của toàn dòng. Đến năm 1218, trong văn thư ngày 2 tháng 12, đức giáo hoàng còn ủy thác đền thờ Saint Sixtus dưới quyền cai quản của dòng và dành cho Đa Minh chức nghiêm sư thánh điện, tức là nhà thần học của đức giáo hoàng. Dòng Đa Minh giữ chức vụ này cho đến ngày nay.
Vẫn ôm giấc mộng truyền giáo, Đa Minh không muốn vì công việc điều hành mà quên mộng ước. Cuối năm 1218, ngài chỉ định cha Reginal de Orleans làm tổng đại diện, còn mình thì cùng với nhiều anh em đi sang các thành phố khác. Các tu viện đầu tiên của dòng được thành lập tại Bologna, Prouille, Toulouse, Fanjeaux, sau đó tới Lyons, Segovia, Limoges, Barcelona và nhiều thành phố bên Ý... Tháng 2 năm 1219, đan viện nữ Đa minh, tức là dòng nhì được thành lập tại Madrid, Tây ban nha. Cũng trong năm đó, đức giáo hoàng Honoriô đã ban cho ngài tước hiệu "Bề trên tổng quyền" hoặc bề trên cả (Master General), là danh xưng mà các vị thừa kế giữ cho đến nay. Qua năm 1219, nhân đại hội dòng lần đầu ở Bologna, Đa Minh từ chức bề trên tổng quyền để có nhiều thời giờ đi truyền giáo. Đương nhiên, đơn xin bị từ chối. Tuy nhiên, không gì có thể cản trở Đa Minh truyền giáo. Cùng với các anh em dòng, ngài mở nhiều mặt trận: lịch sử ghi lại, qua phép lạ và lời giảng dậy, Ngài đã chinh phục hơn 100,000 người trở lại cùng Chúa. Theo cha Lacordaire thì tại Lombardy, Đa Minh đã thành lập hội "Đạo Binh Chúa Giêsu" (Militia of Jesus Christ), tức là huynh đoàn Đa Minh hoặc dòng ba Đa Minh bây giờ. Trước những thành công liên tục, vào năm 1221, ngài một lần nữa phải triệu tập công đồng chung toàn dòng lần thứ 2 tại Bologna. Sau đó ngài đi thăm đức hồng y Ugolino, một ân nhân của dòng. Trên đường trở về lại Bologna, Đa Minh bị bệnh, và sau ba tuần chịu đựng cách can đảm, thánh nhân qua đời giữa các anh em. Ngay sau khi qua đời, nhiều người đã đến cầu khấn cùng ngài. Mười ba năm sau, đức giáo hoàng Gregorio, vào ngày 13 tháng 7 năm 1234 tuyên dương ngài lên bậc hiển thánh.
LINH ĐẠO CỦA THÁNH ĐA MINH
"Contemplare, contemplata aliis tradere". Bên cạnh việc truyền giáo qua giảng thuyết, Đa Minh nổi tiếng vì linh đạo đặc biệt của ngài. Linh đạo này là "hãy chiêm niệm và mang kết quả của sự chiêm niệm đó đến cho tha nhân". Như chúng ta đã biết, dòng Đa Minh là một hội dòng "pha", nghĩa là vừa hoạt động, vừa chiêm niệm. Trước đó, các linh mục triều hướng nhiều về hoạt động; còn linh mục dòng khổ tu thì theo tiến trình: "học tập - cầu nguyện - chiêm niệm - (trở về) học tập". Đa Minh đề ra phương cách mới: "học tập - cầu nguyện - giảng thuyết - chiêm niệm - (trở về) giảng thuyết - học tập". Linh đạo này về sau được thánh Thomas khai triển và trở nên nổi tiếng với câu châm ngôn "Contemplare, contemplata aliis tradere." Sống đúng theo câu châm ngôn trên, cuộc đời của thánh Đa Minh được giáo hội ca tụng là ngài chỉ "nói với Chúa, về Chúa và trong Chúa." Làm sao một người có thể làm được như vậy? Chúng ta có thể làm được không? Được. Tất cả những gì Đa Minh thấy trên đường rao giảng đều là phương tiện ca tụng Chúa, để chiêm niệm và chia sẻ sự chiêm niệm đó cho tha nhân. Ở trên chúng ta đã biết, sách Phúc Âm ngài thường mang theo là sách của thánh Matthêu. Như Matthêu thuật lại nhiều chi tiết về cuộc đời của Chúa Giêsu, thì Đa Minh cũng thấy mọi biến cố trong cuộc sống, đều là phương cách giúp chiêm niệm và rao giảng Tin Mừng. Lòng nhiệt thành với việc rao giảng Tin Mừng của Đa Minh mạnh đến nỗi trong tông thư tuyên dương hiển thánh cho ngài, đức giáo hòang Gregory đã tuyên bố rằng không ai ngạc nhiên gì về sự thánh thiện của Đa Minh đáng nêu gương cho mọi người như sự thánh thiện của hai thánh tông đồ Phêrô và Phaolô!
Lậy Cha thánh Đa Minh, xin cầu cho chúng con.
Thứ Ba, 4 tháng 8, 2009
Ngày 4-8:Thánh Gioan Maria Vianey, linh mục

(1786 - 1859)
Gioan Maria Vianney sinh ngày 8-5 -1786 tại Dardilly. Cha mẹ Ngài là những nông dân trung kiên với đức tin. Suốt thời cách mạng Pháp, họ thường bí mật tiếp rước các linh mục đến trú ngụ. Vì vậy Gioan là một trẻ em có mặt trong các buổi lễ cử hành lén lút tại lẫm lúa và được chứng kiến rất nhiều mẫu gương anh hùng với đức tin.
Năm lên 11, Gioan được cha Greboz cho xưng tội lần đầu. Tháng 5 năm 1798 Gioan được mẹ dẫn sang nhà bà dì ở Ecully để dọn mình rước lễ vỡ lòng. Mùa xuân năm 1799 Gioan cùng với 15 em khác được rước lễ vỡ lòng trong một thánh lễ được cử hành giữa đống rơm. Ngài rước lễ rất sốt sắng và đã giữ cho đến chết tràng chuỗi Mân côi kỷ niệm ngày hạnh phúc này.
Năm 1800 thanh bình trở lại với các tín hữu, khi Napoléon nhận biết rằng không có tôn giáo thì không có một tổ chức nào có thể tồn tại vững bền được. Từ nhỏ Gioan đã muốn làm linh mục. Khi bày tỏ ý định tốt đẹp này, Ngài đã 17 tuổi và mới chỉ qua bậc tiểu học. Mẹ Ngài tán thành chí nguyện, nhưng cha Ngài với óc thực tế đã băn khoăn rất nhiều và không chấp nhận. Mãi tới năm 1805, Gioan đến sống với cha Belley, họ Ecully, theo học với các bạn tuổi còn nhỏ, mà trí khôn Ngài lại quá trì trệ. Đã vậy vào năm 1890, Ngài lại còn phải nhập ngũ. Năm sau Ngài may mắn được trở về nhà.
Năm 1810, Gioan gia nhập tiểu chủng viện Verrìrea. Hai năm trôi qua, Ngài là một chủng sinh học hành rất kém. Dầu vậy Ngài cũng nhận vào đại chủng viện. Tại đây chuyển ngữ là tiếng Latinh, mà Gioan lại quá dở về môn này, khiến ban giám đốc khuyên thầy hồi tục. Không thất vọng một lần nữa cha Balley đảm nhận việc dạy dỗ người chủng sinh gương mẫu nhưng chậm trí này. Sau khi hoàn tất chương trình học, ngày 13 tháng 8 năm 1815, Gioan Maria Vianney thụ phong linh mục tại nguyện đường đại chủng viện Grênoble. Ngài được gọi lên chức linh mục chính vì đời sống đạo đức.
Sau khi thụ phong, cha Gioan Maria Vianney được cử làm phó xứ Ecully. Tháng 12 năm 1817, cha Balley qua đời, cha Vianney được cử về làm chánh sở họ Ars. Khi bổ nhiệm, cha tổng đại diện nhắn nhủ:
- “Đây là một họ đạo nhỏ bé nghèo nàn, thiếu vắng tình yêu Chúa. Cha hãy mang tình yêu đến cho họ”.
Ngày 9 tháng 2 năm 1818 cha đến xứ lần đầu với hành lý khiêm tốn chất trên một chiếc xe tay, gồm một chiếc giường cũ, một rương sách và ít đồ vặt vãnh khác. Tới gần làng, Ngài dừng chân hỏi đường. Bọn trẻ chăn chiên không hiểu tiếng nói khác với thổ ngữ chúng vẫn dùng nhưng cũng đoán biết và chỉ lối cho cha. Khi biết được điạ sở, cha Gioan quì gối cầu nguyện cho những người sẽ là đoàn chiên của mình. Tới nơi Ngài vào thẳng nhà thờ và chìm trong kinh nguyện.
Nhà xứ Ars thật nghèo nàn với vài đồ vật thật sơ sài. Chính cha sở trẻ họ đạo lại coi đời sống cầu nguyện hãm mình là phương thế để thành công. Trong khi mọi người còn triền miên giấc điệp, Ngài đã xách đèn từ nhà xứ sang nhà thờ để cầu nguyện. Trước nhà tạm, nhiều lần với nước mắt ướt cả sàn nhà, Ngài tha thiết cầu nguyện:
- Lạy Chúa, con xin lãnh chịu tất cả, nhưng xin Chúa cải hóa họ đạo của con... Con bằng lòng chịu mọi đau khổ như Chúa muốn, miễn sao họ biết hồi tâm hối cải.
Chìm đắm trong kinh nguyện, cha Gioan không quan tâm tới nhu cầu thể xác, mà Ngài coi như cái thây ma. Ngủ đã ít, Ngài lại thường nằm trên sàn nhà. Đồ đạc người ta dâng cúng, Ngài đem cho người nghèo... Vui cười Ngài nói: “Tôi không hề mất áo choàng bao giờ.”
Chuyện ăn uống Ngài cũng chẳng quan tâm đến, tự mình nấu ăn, Ngài chỉ nấu một nồi khoai rồi treo lên tường. Khi đói Ngài ăn một hai củ và củ thứ ba là “để cho vui miệng”. Nồi khoai thường để lâu cho đến nỗi những củ cuối cùng thường bị mốc meo. Ngài hãm mình như vậy cho tới năm 1827, khi các chị dòng Chúa quan phòng nấu ăn cho Ngài.
Hơn nữa thánh nhân còn tự ý hãm mình. Mỗi đêm Ngài đều đánh tội trước khi ngủ. Trên tường phòng Ngài còn loang lổ nhiều vết máu.
Với một đời sống cầu nguyện hy sinh như vậy, thánh nhân nỗ lực canh tân họ đạo. Về xứ được ít lâu, Ngài sớm nhận ra được ba tệ đoan trong họ đạo là sự lãnh đạm với việc đạo đức, thói quen làm việc xác ngày Chúa nhật và tật ham khiêu vũ.
Để chấn hưng lại tình trạng suy đồi kia, dĩ nhiên thánh nhân gia tăng lời cầu nguyện và việc hãm mình. Trong hoạt động Ngài đi thăm viếng các gia đình. Sửa lại tình trạng thiếu hiểu biết về đạo, Ngài lo dạy giáo lý cho trẻ em. Suốt 27 năm, cha thánh Gioan ngày nào cũng trung thành với viêc dạy giáo lý. Đối với người lớn cha dọn bài giảng rất kỹ lưỡng. Ngồi trong phòng thánh cạnh nhà tạm, cha viết bài giảng, Đêm thứ bảy cha học và tập giảng – cho hôm sau lời giảng của cha rất đơn sơ, nhưng xoáy vào lòng người nghe. Chẳng hạn Ngài nói:
- Không có gì vững bền cả. Đời sống sẽ qua đi... danh giá cũng sụp đổ, của cải rồi sẽ tiêu tan, sức khỏe cũng bị tấn công, chúng ta ra đi như làn gió.
- Càng cầu nguyện người ta càng ham thích, như một con cá trồi lên mặt nước rồi chìm mình trở lại và luôn bơi đi mãi. Linh hồn đắm chìm trong lời cầu nguyện sẽ mất hút trong sự êm dịu của cuộc đàm thoại với Chúa.
Các câu chuyện nhỏ cha kể nhiều khi có giá trị như một bài giảng. Chẳng hạn cha nói về một em nhỏ bị đau bịnh:
- Con đau đớn lắm không ?
Cậu bé trả lời:
- Hôm qua con không đau đớn gì và ngày mai con cũng hết khổ.
Cha hỏi lại:
- Vậy con muốn được lành bệnh không ?
- Trước khi bệnh con hung dữ, khỏi bệnh con dám như vậy lắm. Để như thế nầy là tốt hơn cả.
Chống lại tật làm việc xác, cha nói:
- Ngày chủ nhật là của Chúa. Mà anh em ăn trộm cũng chẳng lợi ích gì cho anh em. Tôi biết có hai phương thế chắc chắn để nên nghèo khó là làm việc ngày Chúa nhật và lấy của kẻ khác.
Để chống lại tật ham khiêu vũ, đã có lần cha đến giữa đám để giải tán. Lần khác cha bỏ tiền trả cho nhạc công để anh rút lui. Tích cực hơn, cha lập hội Mân Côi để tập họp các thiếu nữ vào việc thực hành đạo đức này.
Hơn nữa, trong họ có bảy quán rượu, cha hết sức khuyên nhủ và cả chúc dữ nữa để họ đổi nghề. Cuối cùng cả 7 quán đều đóng cửa.
Thấy trọng trách của một chủ chiên quá nặng nề, đã bốn lần cha Gioan tìm cách trốn khỏi họ đạo. Nhưng rồi cha đã bị phát giác, tiếng chuông reo vang và người ta đổ xô ra đường để giữ cha lại. Nỗ lực của cha không dễ dàng được tiếp nhận. Người ta tìm nhiều cách để vu khống cho cha nhiều tội tày trời. Thành công của cha khiến cho nhiều người nghi ngờ và ghen tị, đến nỗi tòa giám mục phải mở cuộc điều tra. Sau nữa chính quỉ dữ cũng phải công khai phá cha dưới nhiều hình thức như xê dịch đồ đạc, la lối om sòm, hiện hình kỳ quái... đến độ đốt cháy cả giường nằm. Nhớ lại tất cả những gì đã trải qua, cha nói:
- Khi đến Ars, nếu biết được tất cả những gì tôi phải chịu, chắc tôi chết liền.
Nhưng ơn thánh Chúa đã nâng đỡ Ngài. Mỗi ngày trong thánh lễ, Ngài được thấy chính Chúa Giêsu. Dần dần họ Ars đã được biến đổi, hương thơm thánh thiện còn bay lan rộng ra khỏi ngôi làng bé nhỏ và hẻo lánh này. Khách thập phương từ khắp nơi đổ xô đến, để được chiêm ngưỡng một cha sở thánh thiện, để được nghe lời Ngài, để xưng tội. Cha Gioan đã làm vui lòng mọi người. Suốt hai mươi năm trời, cha như chôn mình trong tòa giải tội, từ sau lễ tới 11 giờ trưa, rồi từ 1 giờ chiều tới 8 giờ tối. Sau này khi được qua đời, cha được chôn cất tại nhà nguyện thánh Gioan tẩy giả, cạnh tòa giải tội mà người ta gọi là phép lạ lớn nhất ở Ars.
Tận tụy với các linh hồn, cha Gioan cũng được ơn thấu tỏ lòng người. Ngày kia có một du khách tới Ars để đi săn. Nhìn ông với con chó bên cạnh, Ngài nói:
- Con chó của ông thật đẹp, nhưng linh hồn chẳng đẹp tí nào.
Cúi mặt người du khách vào toà xưng tội.
Một người đàn bà khác nghe cha nói: “Ông ấy đã được rỗi. Giữa thành cầu và giòng nước, ông đã kịp ăn năn tội...”. Thế là cha đã biết nỗi lo âu sầu của bà, vì cái chết mới đây của chồng bà. Ngài đã mang lại cho bà niềm an ủi khi cho biết rằng: nhờ những bó hoa và vài lần cầu nguyện với vợ mỗi tháng Đức Mẹ, mà người chồng xấu số kia đã được cứu rỗi.
Đời sống của cha Gioan là một mẫu gương tận tụy vì Chúa và vì các linh hồn, Ngài thường nói: “Hạnh phúc cho một vị linh mục được hao mòn vì Chúa và các linh hồn”.
Quả thực, cha Gioan đã hao mòn vì phụng sự. Ngày 2 tháng 8 năm 1859 cha chịu các phép bí tích sau hết. Ngày 4 tháng 8 năm 1859 cha trút hơi thở cuối cùng với sự mãn nguyện.
Ngày tháng 5 năm 1925, cha Gioan được tôn phong hiển thánh và năm 1925 được đặt làm bổn mạng các cha sở trên toàn thế giới. Và vào năm nay 2009, cha được đặt làm bổn mạng tất cả các linh mục.
Thứ Sáu, 31 tháng 7, 2009
Đức Thánh Cha vừa bổ nhiệm Giám mục cho 4 Giáo phận tại Việt Nam
VATICAN. Hôm 25-7-2009, Phòng Báo Chí Tòa Thánh cho biết ĐTC Biển Đức 16 đã tiến hành việc bổ nhiệm GM cho 4 giáo phận tại Việt Nam: Thái Bình, Phát Diệm, Phan Thiết và Xuân Lộc.
- Trước hết ĐTC nhận đơn từ chức vì lý do tuổi tác của Đức Cha Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Sang, 77 tuổi (1932), GM giáo phận Thái Bình và bổ nhiệm người kế nhiệm là Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Đệ , 63 tuổi, thuộc dòng Don Bosco, cho đến nay là GM Phụ tá giáo phận Bùi Chu.
- Thứ hai là ĐTC bổ nhiệm Cha Giuse Nguyễn Năng làm tân GM giáo phận chính tòa Phát Diệm. Đức tân GM năm nay 56 tuổi, sinh ngày 24-11 năm 1953 tại Phúc Nhạc, Phát Diệm, học tiểu chủng viện Sàigòn từ năm 1962 đến 1970, rồi lên Đại chủng viện Thánh Piô 10 Đà Lạt từ năm 1975 đến 1978. Trong thời gian thụ huấn, thầy Giuse Năng phục vụ trong Tu Hội Tông Đồ Nhỏ ở Bạch Lâm, Thống Nhất, Đồng Nai (1977-1988) rồi tại giáo xứ Thuận Hoa, Biên Hòa (1988-1990) cho đến khi thụ phong Linh mục ngày 9-6-1990 thuộc giáo phận Xuân Lộc.
Sau khi thụ phong, cha Giuse Năng làm cha sở và quản hạt Thuận Hoa, Biên Hòa trong 8 năm trời (1990-1998) cho đến khi được gửi sang Roma du học tại Đại học Giáo Hoàng Urbaniana và đậu tiến sĩ thần học tín lý năm 2002. Trở về nước, Cha Giuse Năng làm Giám đốc đại chủng viện Xuân Lộc.
Giáo Phận Phát Diệm có 152 ngàn tín hữu Công Giáo trên tổng số 920 ngàn dân cư, với 69 giáo xứ, 55 LM, 34 đại chủng sinh và 140 nữ tu. Giáo phận trống tòa từ hơn 2 năm nay sau khi Đức Cha Giuse Nguyễn Văn Yến năm nay 67 tuổi (1942), xin từ chức ngày 14-4 năm 2007.
- Bổ nhiệm thứ ba ĐTC quyết định cho Giáo Hội tại Việt Nam là ngài nhận đơn từ chức vì lý do của Đức Cha Phaolô Nguyễn Thanh Hoan, 77 tuổi, GM giáo phận Phan Thiết và cử người kế nhiệm là Đức Cha Giuse Vũ Duy Thống , 57 tuổi (1952) cho đến nay là GM Phụ tá Tổng giáo phận Thành Phố Hồ chí Minh.
- Sau cùng, ĐTC bổ nhiệm Cha Tôma Vũ Đình Hiệu làm tân GM Phụ tá giáo phận Xuân Lộc. Đức tân GM năm nay 55 tuổi, sinh ngày 30 tháng 10 năm 1954 tại Ninh Mỹ, giáo phận Bùi Chu, theo học tại tiểu chủng viện Xuân Lộc, trước khi lên Đại chủng viện thánh Piô 10 Đà Lạt. Do tình trạng chính trị khó khăn của đất nước, Thầy Tôma Hiệu phục vụ tại giáo xứ Tân Mai trong 10 năm trời (1977-1988) trước khi về Tòa GM Xuân Lộc làm bí thư của Đức Cha Nguyễn Minh Nhật từ năm 1988 đến 1999 là năm thầy thụ phong Linh Mục (22-1-1999).
Sau khi thụ phong, Cha Tôma Hiệu tiếp tục phục vụ tại tòa GM rồi được gửi sang Pháp năm 2000 học thần học luân lý tại Học viện Công Giáo Toulouse, đậu cao học thần học tại đây năm 2006 rồi trở về nước, làm Chưởng ấn tòa GM Xuân Lộc. (SD 25-7-2009)
Lm.Trần Đức Anh.OP (Theo Radio Vatican)
Thứ Năm, 23 tháng 7, 2009
Thứ Tư, 22 tháng 7, 2009
Đức Thánh Cha chủ sự kinh Truyền tin tại Bắc Italia
| |
Làng Romano Canavese có gần 3000 dân cư thuộc tỉnh Torino, và thuộc giáo phận Ivrea, cách làng Les Combes, nơi Đức Thánh Cha đang nghỉ hè khoảng 95km. Làng này đón nhận đức tin Kitô từ những thế kỷ đầu tiên. Ngài đến đây theo lời mời của Đức Hồng y Tarcisio Bertone Quốc vụ khanh, nhân vật thứ hai tại Tòa Thánh sau Đức Thánh Cha và là cộng tác viên thứ nhất của ngài.
Trong những ngày trước đó, xã trưởng Romano Canavese đã nói với giới báo chí: ”Lần đầu tiên một vị Giáo Hoàng dừng lại tại lãnh thổ chúng tôi. Trong quá khứ, khi viếng thăm giáo phận Ivrea, xe của Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã đi qua đây nhưng không dừng lại. Lần này thì khác, Đức Giáo hoàng đích thân đến đây, cũng nhờ người đồng hương nổi bật của chúng tôi là Đức Hồng y Bertone, người đã tổ chức cuộc viếng thăm này.. Cơ hội này làm cho chúng tôi cảm thấy vinh dự và biết ơn Đức Hồng y Bertone, một người tuy giữ những vai trò rất quan trọng, nhưng vẫn luôn gắn bó với đất tổ của mình. Ngài vẫn thường trở về đây khi công việc của ngài cho phép”.
Ban sáng, trước khi Đức Thánh Cha đến, Đức Hồng y Bertone đã chủ sự thánh lễ vào lúc 9h30' tại quảng trường Ruggia trước thánh đường giáo xứ, cùng với Đức Cha Arrigo Miglio, Giám mục Ivrea sở tại, 5 Giám mục khác, trong đó có Đức Tổng Giám mục Giuseppe Bertello, Sứ thần Tòa Thánh tại Italia, cũng là người xuất thân từ miền này, và một số linh mục trong giáo phận.
Lúc 11h30', máy bay trực thăng chở Đức Thánh Cha đã đáp xuống khu vực trước kia là hãng chế tạo máy chữ Olivetti. Dọc theo những con đường dẫn tới quảng trường Ruggia, có đông đảo tín hữu và dân chúng đứng hai bên để chào đón Đức Thánh Cha, vì số chỗ ở quảng trường nơi hành lễ có giới hạn, nên chỉ có ai có vé mới được vào khu vực này.
Đến nơi, Đức Thánh Cha đã được các tín hữu tiếp đón nồng nhiệt. Ông trưởng làng tặng ngài một bức tranh và ông Franco Barnabé, chủ tịch hãng Telecom, tặng Đức Thánh Cha một máy vi tính nhỏ, với hy vọng ngài có thể dùng máy này để viết sách, vì bàn tay bị bó bột 1 tháng, nên ngài không thể viết bằng tay được.
Tiếp đến, Đức Thánh Cha vào bên trong thánh đường kính viếng Mình Thánh Chúa và bắt tay chào thăm đông đảo tín hữu tụ tập tại đây, trước khi tiến ra lễ đài bên ngoài để chủ sự buổi đọc kinh truyền tin.
Kinh Truyền Tin
Trong lời chào mừng, Đức Giám mục giáo phận Ivrea sở tại, Arrigo Miglio gọi cuộc viếng thăm của Đức Thánh Cha như một món quà quí giá, và nói rằng: ”Chúng con ở đây là những người thừa kế và trách nhiệm về một truyền thống Kitô lâu dài, vốn để lại cho chúng con những giá trị đã bén rễ sâu, như gia đình, tình liên đới, sự tiếp đón những người di cư, những giá trị này ngày nay vẫn còn sinh động trong cộng đoàn chúng con. Cuộc viếng thăm của Đức Thánh Cha mang lại vinh dự cho truyền thống đức tin và lao động vẫn luôn là đặc tính của cộng đoàn thuộc giáo phận chúng con”.
Về phần Đức Thánh Cha, trong lời đáp từ ngài đặc biệt bày tỏ niềm vui lớn lao vì được đến viếng thăm làng này, ”trong nhà thờ đẹp đẽ, nơi sinh trưởng của người cộng tác đầu tiên của tôi là Đức Hồng y Tarcisio Bertone, Quốc vụ khanh, đã từng làm việc với tôi trong nhiều năm tại Bộ giáo lý đức tin”. Ngài giơ cánh tay phải đang bị bó bột và nói thêm rằng:
”Như anh em thấy, vì tai nạn, tôi hơi bị giới hạn trong cử động, nhưng sự hiện diện tâm hồn của tôi ở đây vẫn trọn vẹn, tôi rất vui mừng được ở với anh chị em!
”Trong lúc này đây, tôi muốn hết lòng cám ơn tất cả mọi người: bao nhiêu người trong thời gian này đã bày tỏ sự gần gũi, thiện cảm, lòng quí mến đối với tôi và đã cầu nguyện cho tôi, như thế mạng lưới cầu nguyện liên kết chúng ta tại mọi nơi trên thế giới.
”Trước tiên tôi muốn cám ơn các bác sĩ và nhân viên y tế tại bệnh viện Aosta đã ân cần chữa trị cho tôi, với tất cả khả năng chuyên môn và tình thân hữu, và như anh chị em thấy, chúng ta hy vọng sự thành công chung kết!” Vừa nói, Đức Thánh Cha vừa giơ cao cánh tay bị bó bột trước những tiếng vỗ tay của mọi người.
”Tôi cũng muốn cám ơn chính quyền quốc gia, giáo quyền và tất cả những người dân thường đã viết thư hoặc bày tỏ với tôi lòng quí mến và sự gần gũi của họ...
Đi vào bài huấn dụ, Đức Thánh Cha nhắc đến bài Tin Mừng của Chúa nhật 16 thường niên trong đó Chúa mời gọi các môn đệ rời ra một nơi riêng để nghe ngài trong vòng thân mật. Ngài cũng đề cập đến tình trạng kinh tế khó khăn vì thiếu công ăn việc làm tại miền Ivrea này, và nói rằng:
”Về vấn đề này, như Đức Cha Miglio đã nói, tôi đã lên tiếng nhiều lần và tôi muốn bàn về vấn đề ấy một cách sâu rộng hơn trong thông điệp mới đây ”Caritas in veritate”, Bác ái trong sự thật. Tôi hy vọng Văn kiện này có thể động viên những sức mạnh tích cực để đổi mới thế giới!
”Các bạn thân mến, các bạn đừng nản chí! Chúa Quan phòng luôn giúp đỡ những ai làm điều thiện và dấn thân cho công lý: Chúa giúp đỡ những người không phải chỉ nghĩ đến mình, nhưng còn nghĩ đến những ngừơi kém may mắn hơn. Và các bạn biết rõ điều ấy, vì tiền nhân các bạn đã từng phải di cư vì thiếu công ăn việc làm, nhưng rồi sự phát triển kinh tế đã mang lại sung túc và những người khác từ Italia và nước ngoài đã nhập cư đến đây. Các giá trị căn bản là gia đình và sự tôn trọng sự sống con người, sự nhạy cảm về công bằng xã hội, khả năng chấp nhận vất vả và hy sinh, sự gắn bó chặt chẽ với đức tin Kitô qua đời sống giáo xứ và nhất là sự tham dự thánh lễ, qua bao thế kỷ đã là sức mạnh đích của các bạn. Cũng chính các giá trị ấy sẽ làm cho các thế hệ ngày nay kiến tạo tương lai trong niềm hy vọng, kiến tạo một xã hội thực sự liên đới và huynh đệ, trong đó tất cả các lãnh vực, các tổ chức và nền kinh tế đều được thấm nhiễm tinh thần Tin Mừng.
”Đặc biệt tôi ngỏ lời với những người trẻ, cần phải nghĩ đến họ trong viễn tượng giáo dục. Nhất là ở đây cần phải tự hỏi cần phải đề nghị cho họ loại văn hóa nào; đâu là những gương mẫu cần trình bày cho họ và khuyến khích họ bước theo những con đường của Tin Mừng và tự do đích thực. Tuổi trẻ đầy nghị lực, nhưng cần giúp đỡ họ chiến thắng cám dỗ đi theo những con đường dễ dàng và ảo tưởng, để tìm được con đường sự sống sung mãn và chân thật.”
Đức Thánh Cha nói thêm rằng: “Anh chị em thân mến, tại miền đất của anh chị em, phong phú nhờ các truyền thống Kitô và các giá trị nhân bản, đã nảy sinh nhiều ơn gọi nam nữ, đặc biệt là Gia đình Salésien, như ơn gọi của Đức Hồng y Bertone, đã sinh ra tại giáo xứ và được rửa tội trong thánh đường này, và lớn lên trong một gia đình đã hấp thụ đức tin chân thành. Giáo phận của anh chị em chịu ơn nhiều của con cái nam nữ của thánh Bosco, nhờ sự hiện diện đông đảo và phong phú trong toàn vùng ngay từ những năm Thánh Tổ Phụ còn sống. Ước gì điều này cũng là một sự khích lệ cộng đoàn giáo phận của anh chị em ngày càng dấn thân hơn trong lãnh vực giáo dục và tháp tùng ơn gọi. Chúng ta hãy cầu xin sự bảo vệ của Mẹ Maria, Đức Mẹ Mông Triệu bổn mạng giáo phận, là Ơn Phù Hộ các tín hữu Kitô, là người Mẹ được kính mến đặc biệt trong nhiều Đền thánh dâng kính Mẹ trên các ngọn núi ở rặng Gran Paradiso và bình nguyên sông Po... Với lòng tín thác con tháo, chúng ta hãy phó thác cho Mẹ qua lời kinh Truyền Tin.
Sau kinh Truyền Tin, mặc dù tay phải bị bó bột, Đức Thánh Cha vẫn dùng tay này để ban phép lành cho các tín hữu.
Rời quảng trường nhà thờ giáo xứ, ngài đã đến dùng bữa trưa đơn sơ tại nhà gia đình Đức Hồng y Bertone. Tham dự bữa này có em trai Valeriano và em gái Mariaucci cùng với một số người lớn trong gia đình, Đức Giám Mục sở tại và một số vị tháp tùng. Bầu không khí thật thoải mái và thân thiện.
Sau bữa ăn, toàn gia đình thân nhân Đức Hồng y Bertone, tổng cộng là 50 người lớn nhỏ đã chụp hình chung với Đức Thánh Cha ở sân nhà và tiếp đó, ngài đã đáp trực thăng lúc 2h15' để trở lại làng Les Combes.
Trên tường nhà Bertone có treo một tấm bảng ghi nhớ cuộc viếng thăm có một không hai của Đức Thánh Cha tại đây: "Các phần tử gia đình Bertone và những người phối ngẫu của họ hết sức vui mừng và biết ơn Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã đến viếng thăm họ tại nhà tổ”.


