Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2009

Giáo phận Phú Cường: Lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng nhà thờ Chánh tòa











WHĐ (13.06.2009) – Sáng 13-06-2009, tại nhà thờ giáo xứ Chánh tòa giáo phận Phú Cường, số 394 đường Cách mạng Tháng Tám, Thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, Đức cha Phêrô Trần Đình Tứ, giám mục Phú Cường, đã làm phép viên đá đầu tiên và diện tích nhà thờ mới, sau đó ngài chủ tế Thánh lễ cầu cho công trình xây dựng ngôi nhà-thờ-mẹ của giáo phận đạt kết quả mĩ mãn, góp phần vào công cuộc làm chứng cho đức Tin Kitô giáo và ca tụng vinh quang Chúa trên miền đất đông bắc Nam bộ.
Đồng tế với Đức giám mục Phú Cường, có Đức cha Giuse Vũ Duy Thống, giám mục phụ tá Tổng giáo phận TP.HCM và hơn một trăm linh mục trong giáo phận và các giáo phận bạn. Tham dự Thánh lễ có hàng trăm nam nữ tu sĩ, chủng sinh và hơn hai ngàn giáo dân đến từ các giáo xứ trong giáo phận Phú Cường và các giáo phận TP.HCM, Xuân Lộc, Mĩ Tho, Long Xuyên...
Một thoáng bâng khuâng lúc chia tay ngôi nhà thờ “thất thập cổ lai hy”
Được biết ngôi nhà thờ sắp được thay thế có tuổi đời 68 năm, đã xuống cấp nghiêm trọng, đến nỗi cha sở Micae Lê Văn Khâm đã phải cho giăng lưới phòng ngừa gạch vữa trên trần rơi xuống đầu người dự lễ.
Tiền thân nhà thờ Chánh tòa Phú Cường là nhà thờ họ đạo Thủ Dầu Một (thành lập năm 1865 với cha sở đầu tiên là linh mục Sorel Constant - Joseph), rồi Phú Cường và nay là giáo xứ Chánh tòa (năm 1965 được Đức giám mục tiên khởi giáo phận đặt làm nhà thờ Chánh tòa của giáo phận Phú Cường mới được thành lập).




Trước bề dày lịch sử 140 năm của họ đạo và gần 70 năm hiện diện của ngôi nhà thờ sừng sững trên một khu đất cao cạnh Ngã Sáu thuộc trung tâm thị xã Thủ Dầu Một, Đức cha Giuse Vũ Duy Thống không khỏi một thoáng “bâng khuâng” trong giây phút sắp phải chia tay ngôi nhà thờ cũ.
Xúc cảm của Đức cha Giuse cũng là tâm tình của bổn đạo Chánh tòa.
Bà Lê Thị Năm, 48 tuổi, mới gia nhập họ đạo được 6 năm, chia sẻ: “Tôi từ miệt Cà Mau lên đây kiếm sống. Thuở ban đầu còn xa lạ, nhưng cha sở và bổn đạo Chánh tòa đã tổ chức nhiều sinh hoạt gắn kết mọi người, nên tôi nhanh chóng hòa nhập gia đình mới, thấy gắn bó với họ đạo. Đặc biệt ngôi nhà thờ, tuy cũ kĩ, xuống cấp nhưng đối với tôi đã trở thành hình ảnh đầy kỉ niệm. Nay Đức cha, cha sở và mọi người đồng tâm nhất trí xây ngôi nhà thờ mới cho Chúa, thấy vui lắm, phấn khởi lắm. Mong cho thuận buồm xuôi gió, có ngôi nhà thờ mới đặng mọi người ở đây tiếp tục làm sáng danh Chúa”.
Lâng lâng trước những tấm lòng hướng đến ngôi nhà thờ mới
Ý nghĩ của người giáo dân Chánh tòa đã được Đức cha Giuse phát triển thành những suy ngẫm sâu sắc của Đức cha Giuse trong bài giảng Thánh lễ.
Đức cha Giuse Vũ Duy Thống bày tỏ nỗi “bâng khuâng” khi nghĩ mình đang dâng thánh lễ trong một nếp nhà sắp được dỡ bỏ, nhưng cũng lại thấy “lâng lâng” lúc ngẫm suy những tấm lòng đang chăm chút cho “nếp nhà mới” mau ra đời.
Đức cha Giuse nói đến ba tấm lòng khiến ngài “lâng lâng”. Tấm lòng của Chúa mở ra cho giáo phận Phú Cường. Tấm lòng của Giáo Hội luôn mở ra cho mọi con cái, cụ thể là tấm lòng của Đức đương kim Giám mục dành cho con cái trong giáo phận (Đức cha Phêrô nguyên là cha sở chánh tòa giai đoạn 1988-1999). Tấm lòng của quý ân nhân xa gần sẽ góp phần thúc đẩy tiến độ của công trình xây dựng.




Linh mục Micae Lê văn Khâm, Tổng đại diện, cha sở giáo xứ Chánh tòa, đã phát biểu trước khi Thánh lễ kết thúc. Cha nói lời cảm ơn tấm lòng và sự giúp đỡ của các vị chủ chăn và mọi thành phần dân Chúa trong và ngoài giáo phận. Cha nêu bật ý nghĩa sự hiện diện những ngôi nhà thờ trên mảnh đất con người sinh sống. Cha nói: “Ở đâu có nhà thờ, ở đó có dấu chỉ của tình Chúa yêu thương”. Ngài còn nêu lên ý nghĩa của việc xây dựng nhà thờ là “cách bày tỏ đức Tin và đời sống cầu nguyện của cộng đoàn Kitô hữu”.
Rồi đây, trong một thời gian nữa, có dịp đến khu vực trung tâm thị xã Thủ Dầu Một, mọi người sẽ được nhìn ngắm và bước vào cầu nguyện trong một ngôi thánh đường gô-tích với ba ngọn tháp cao vút. Những ngọn tháp vươn lên trời xanh như khát vọng vươn cao của các Kitô hữu tại Phú Cường.
Đức cha Giuse Vũ Duy Thống nói: “Đất Phú Cường - đất Thủ Dầu Một, đất của trái cây và... trái tim. Trái tim Chúa Giêsu yêu thương mọi người. Trái tim người Phú Cường - đất Thủ yêu mến Chúa và tha nhân”.

Ngày 13 tháng Sáu: Thánh ANTÔN PAĐUA, linh mục tiến sĩ Hội Thánh (1195–1231)


Antôn Pađua sinh năm 1195 tại Lisbonne thủ đô nước Bồ Đào Nha, trong một gia đình quyền quý và đạo đức. Vốn được giáo dục theo tinh thần Phúc Âm nên ngài sớm ý thức được việc dâng mình cho Chúa.
Đầu tiên, ngài nhập dòng thánh Augustinô và được chịu chức linh mục tại đó. Cảm thấy lí tưởng sống khiêm tốn và khắc kỉ hợp với mình hơn và nhất là ngài ao ước được truyền giáo cho dân ngoại và được tử đạo, nên ngài đã xin gia nhập dòng Phanxicô năm 1220. Tại đây, ngài được bề trên sai đi truyền giáo cho dân Sarrasins ở Phi châu, thể theo ý nguyện của ngài.
Nhưng ý Chúa quan phòng lại định liệu cách khác: vừa tới Phi châu, ngài ngã bệnh nặng và phải trở về điều trị. Trên đường về quê, tàu ngài bị bão thổi dạt vào đảo Sicile thuộc nước Ý và ngài ở lại nhà dòng tại Monte Paulo.
Nhờ gương đạo đức và tài giảng thuyết, ngài được bề trên cử đi giảng khắp nơi và lo việc huấn luyện các tu sĩ trong dòng. Bất cứ ở đâu, lời giảng của ngài đều có sức lôi cuốn nhiều người đến nghe. Chúa còn minh xác lời ngài bằng rất nhiều phép lạ. không những tại Ý, mà tại đất Pháp, ngài làm việc không biết mệt mỏi. Và người ta đã gán cho ngài tên “Hòm Bia giao ước” và “Cái búa của bọn lạc giáo”.
Ngài trở về Pađua một năm trước khi chết. Ngài nổi tiếng vì công đức và các phép lạ đã làm. Ngày 13-6-1231 ngài về an nghỉ trong Chúa. Năm 1946 Đức Giáo Hoàng Piô XII tôn ngài làm tiến sĩ Hội Thánh.

Châu-Kiên-Long

Lễ phong chức Linh mục Giáo phận Bà Rịa




BÃI DÂU, VŨNG TẦU - Ngày 11.6.2009, tại Đền Thánh Đức Mẹ Bãi Dâu- Vũng Tàu, Đức Cha Tôma Nguyễn Văn Trâm đã phong chức linh mục cho 6 Thầy Phó Tế. Các Tân chức tốt nghiệp khoá VII Đại Chủng Viện Thánh Giuse Sài Gòn. Cùng đồng tế có 150 linh mục; đông đảo tu sĩ nam nữ và thân nhân ân nhân các tân chức chung lời cầu nguyện.


- Lm Giuse Vũ Minh Đạo- Lm Giuse Nguyễn Công Luận- Lm Giuse Vũ Đức Thịnh- Lm antôn Nguyễn Văn Thuần- Lm JB Nguyễn Bá Tín- Lm Giuse Trần Đình Túc.Trong Thánh lễ phong chức, Đức Cha Nguyễn văn Trâm đã huấn đức như sau: Các con thân mến, các con sắp lên chức linh mục, các con sẽ thi hành nhiệm vụ giảng huấn trong Chúa Kitô là Thầy chúng ta. Các con đã vui mừng lãnh nhận Lời Chúa, các con hãy đem ra phân phát cho mọi người. Khi suy gẫm luật Chúa, các con hãy chú tâm tin điều các con đọc, dạy điều các con tin và thi hành điều các con dạy. Vậy giáo lý các con phải nên lương thực nuôi dân Thiên Chúa. Như vậy, một trong những bổn phận quan trọng nhất của linh mục là rao giảng Lời Chúa. Linh mục thi hành nhiệm vụ đó không phải với tư cách cá nhân, nhưng với tư cách thừa tác viên của Hội Thánh. Hội Thánh nhắn nhủ các linh mục: “Dân Thiên Chúa được quy tụ trước hết là nhờ lời Thiên Chúa hằng sống; Lời này phải được đặc biệt tìm thấy nơi môi miệng các linh mục… Vì thế, các linh mục mắc nợ với mọi người về việc thông truyền cho họ chân lý Phúc Âm mà các ngài đã nhận nơi Chúa” (LM số 1).Vì thế, linh mục luôn đặt mình vào sứ vụ chung của Hội Thánh. Đó là sứ vụ truyền thông Lời Chúa cho con người.


I. LỜI CON NGƯỜI1. Lời nội tâmNgôn ngữ chỉ là một trong nhiều phương cách, chứ không phải là phương cách duy nhất, để con người có thể diễn đạt thế giới nội tâm của mình. Người câm điếc vẫn có thể diễn đạt nội tâm mình cho người khác, dẫu họ không nói được.Vì thế, trước khi nói đến ngôn ngữ, phải quan tâm đến thế giới bên trong, được gọi là nội tâm. Lời ấy bao hàm cả tâm tư, tình cảm, ước muốn, nghĩ suy của con người. Lời ấy rất phong phú đến nỗi nhiều khi mọi phương cách, mọi ngôn ngữ đều bất khả diễn đạt. Chỉ còn biết thinh lặng. Thinh lặng để lắng nghe và thinh lặng cũng là hùng biện!2. Lời được nói raDẫu con người có nhiều phương cách diễn đạt thế giới nội tâm, nhưng lời được nói ra vẫn là phương cách quen thuộc nhất và tốt nhất.Lời ấy giúp con người bày tỏ được cái tôi của mình: cái tôi suy nghĩ, phán đoán, ước muốn. Đồng thời nhờ lời, con người thiết lập tương giao với tha nhân, và chính những tương giao ấy làm cho con người nên phong phú, vì con người là một hữu thể mang tính xã hội.Chính vì thiếu khả năng nói, người câm điếc bị giới hạn rất nhiều trong khả năng diễn đạt, ảnh hưởng đến khả năng lý luận, suy nghĩ và cả đời sống tâm lý.3. Lời và hiệu năngVì lời nói thiết lập những tương giao nên cũng có thể chi phối tương giao đó theo chiều hướng tốt hay xấu tuỳ lòng người. Thánh Giacôbê ví cái lưỡi như hàm thiếc tra vào miệng ngựa, như bánh lái điều khiển con tàu, và hơn nữa như ngọn lửa của thế giới sự ác (x.Gc 3,2-6). Dân Hy Lạp có một vị thần bảo mệnh cho khoa hùng biện, với hình tượng Mercure, miệng ngậm dây xiềng bằng vàng tượng trưng sức mạnh của lời nói. Và trong lịch sử, người ta vẫn nhắc đến ba tấc lưỡi của Tô Tần, cũng như cung kính nói đến thánh Gioan Kim Khẩu. Tất cả đều nhấn mạnh vào vai trò và hiệu năng của lời nói.Chính vì thế đã từ lâu, người ta có khoa hùng biện và có nhiều sách vở hướng dẫn nghệ thuật nói trước công chúng.


II. LỜI THIÊN CHÚA


Suy nghĩ về lời con người là cách cụ thể để tiếp cận lời Thiên Chúa.


1. Lời nội tâm“Thiên Chúa của chúng ta không phải là Thiên Chúa của các triết gia, nhưng là Thiên Chúa của Abraham, Isaac, Giacóp” (Pascal). Nghĩa là một Thiên Chúa sống động, một Thiên Chúa ngỏ lời.Nhưng trước khi lời ấy được nói ra với và cho con người, thì Lời ấy đã là lời nội tâm, Lời Hằng Hữu:“Lúc khởi đầu đã có Lời. Lời vẫn hướng về Thiên Chúa và Lời là Thiên Chúa” (Ga 1,1). Lời ấy là tất cả thế giới nội tâm của Thiên Chúa, là chính mình Ngài và là thánh ý của Ngài (x. MK số 2).2. Lời được nói raLời nội tâm ấy, Thiên Chúa đã bày tỏ cho con người để thiết lập tương giao với con người, mời gọi và đón nhận họ hiệp nhất với Ngài. Bày tỏ bằng hành động như sáng tạo và những can thiệp của Ngài suốt chiều dài lịch sử cứu độ:“Nhờ Lời, vạn vật được tạo thành và không có Lời, thì chẳng có gì được tạo thành” (Ga 1,3).Chính vì thế, tất cả vũ trụ vạn vật trở thành vết tích của Thiên Chúa (Vestigia Dei), thành điệu múa của vũ công, như Ấn Giáo mô tả. Tuy nhiên, Thiên Chúa đã bày tỏ lời nội tâm ấy cách trọn vẹn qua Lời nói, Lời được trao bao cho các tổ phụ, các ngôn sứ và đỉnh cao là nơi Chúa Giêsu, Lời hoá thành nhục thể: “Thuở xưa nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ, nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử” (Dt 1,1).Thánh Gioan Thánh Giá giải thích: “Khi Thiên Chúa đã ban tặng cho ta Con của Ngài là chính Lời của Ngài, Thiên Chúa không còn Lời nào để ban cho ta nữa. Thiên Chúa đã nói tất cả và dứt khoát nơi Lời duy nhất đó”.3. Lời hiệu nghiệmNếu lời của con người còn tạo ra những hiệu quả lớn lao thì huống gì Lời Thiên Chúa: “Như mưa và tuyết rơi xuống mà không trở lại, nhưng đượm nhuần đất đai, nảy sinh hạt mầm… Cũng vậy, Lời phát sinh từ miệng Ta, chẳng trở về luống công mà chắc sẽ hoàn thành điều Ta mong muốn” (Is 55,10-11).Có thể nhìn vào hiệu năng ấy ở nhiều mức độ:• - Trước hết Lời Chúa có thể đọc và giải thích ngoài phụng vụ, trong phạm vi cá nhân hoặc khi làm việc đạo đức. Khi đó Lời Chúa là cơ hội ban ơn hiện sủng và hiệu năng ở đây là hiệu năng “do nhân” (ex opere operantis), nghĩa là tuỳ thuộc thái độ tâm hồn của người đọc và người nghe. • - Thứ đến là Lời phụng vụ, tức là Lời được công bố khi cử hành phụng vụ. Đó là Lời do Chúa Giêsu hoặc Giáo Hội ấn định, được công bố nhân danh Chúa và Giáo Hội bởi thừa tác viên chính thức. Khi đó sự tự do diễn tả bị giới hạn nhiều hơn nhưng lại mang hiệu năng lớn hơn. • - Sau cùng là Lời Bí Tích (Parole sacramentelle) mang hiệu năng “do sự” (ex opere operato). Thánh Augustinô nói về Bí Tích Thánh Tẩy: “Rút Lời đi, nước chỉ còn là nước. Đưa Lời vào yếu tố (vật chất) thình thành Bí tích. Chính Bí tích trở thành như Lời Hữu HÌnh (visibile Verbum)”.Và Thánh Toma Aquinô diễn tả về Bí Tích Thánh Thể: “ Ngôi Lời hoá thành nhục thể, đã nói một Lời làm cho Bánh trở nên thịt mình (carnem)”.Chính vì thế, R.Guardini gọi Thánh Thể là Lời Tác Động (Parole opérante). Lời và Bí Tích đan quyện vào nhau: Lời là Bí tích nghe được (sacramentum audibile); và Bí tích là Lời thấy được (Verbum visibile).III. CON NGƯỜI CÔNG BỐ LỜI THIÊN CHÚA (Tác vụ Lời Chúa)1. Lời Thiên Chúa được công bố qua con ngườiLời Thiên Chúa là Lời Quyền Năng, nhưng Thiên Chúa lại trao cho con người sứ mạng công bố Lời Ngài: “Thuở xưa nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã nói với cha ông chúng ta qua các ngôn sứ” (Dt 1,1). Cũng một sứ mạng ấy được được tiếp nối trong Giáo Hội hôm nay: “Ngày sai các ông đi rao giảng Nước Thiên Chúa và chữa lành bệnh nhân” (Lc 9,2). Hơn nữa sứ mạng đó còn là nhiệm vụ cốt yếu của các tông đồ: “Chúng tôi không thể sao nhãng Lời Thiên Chúa để lo giúp việc bàn ăn” (Cv 6,2) và Thánh Phaolô kêu lên: “Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Phúc Âm”.Thế là con người tội lỗi được giao trách nhiệm công bố Lời thánh hoá, con người yếu đuối công bố Lời quyền năng, con ngươi giới hạn công bố Lời vĩnh cửu.Đã hẳn khi công bố, kẻ được sai phải công bố Lời Thiên Chúa: “Ta sai ngươi đến với ai, ngươi sẽ đi. Ta truyền cho ngươi điều gì, ngươi sẽ nói” (Gr 1,7).Tuy nhiên khi họ công bố Lời Thiên Chúa, dấu ấn con người họ vẫn có mặt, vì “Thiên Chúa dùng họ trong khả năng và phương tiện của họ” để họ công bố như “những tác giả đích thực tất cả những gì Chúa muốn” (x. MK 11). Người ta có thể gặp được vẻ nóng nảy mà nồng nàn tha thiết của Giêrêmia, chiều sâu chiêm ngắm trong thinh lặng của Gioan, nhiệt tình bốc cháy của Phaolô… Nhưng tất cả đều công bố Lời Thiên Chúa.2. Trong tác động của Thánh ThầnTrong tông huấn Evangelii Nuntiandi số 75, Đức Phaolô VI đã viết: “Những kỹ thuật nhằm phục vụ công cuộc Phúc Âm hoá là điều rất tốt, nhưng cho dẫu những kỹ thuật hoàn hảo nhất cũng không thể thay thế hoạt động thầm kín của Thánh Thần”.


Sứ vụ công bố Lời Chúa phải được thực hiện trong tác động của Thánh Thần. Đó là điều hiển nhiên. Trong suốt chiều dài lịch sử cứu độ, chính Thánh Thần là Đấng đã nói qua miệng các tiên tri. Và đến thời điểm đỉnh cao của lịch sử, cũng bởi quyền năng của Thánh Thần mà Lời vĩnh cửu đã mặc lấy xác phàm trong lòng Trinh nữ Maria (Lc 1,35).Ngày nay, khi cử hành lễ tế Tạ Ơn, Hội Thánh cũng khẩn nài Thánh Thần ngự xuống thánh hoá của lễ và biến thành Mình Máu Chúa Giêsu. Cũng thế, người giảng chỉ có thể thực sự giảng Lời Chúa nhờ quyền năng và tác động của Thánh Thần. Chính Ngài tác động lên người nói cũng như người nghe, để Lời được công bố không còn là lời của người phàm nhưng là Lời Thiên Chúa. Dù ta có cố gắng đến đâu cũng không thể cải hoá lòng người vì: “Không ai có thể tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa mà không do Thánh Thần” (1Cr 12,3) và “Nếu như Chúa chẳng xây nhà, thờ nề vất vả chỉ là uổng công” (Tv 127,1). Cũng vì thế, khi nói đến trường hợp bà Lydia quê ở Thyatira đã chăm chú nghe Thánh Phaolô giảng dạy, Luca lại diễn tả: “Bà nghe và Chúa mở lòng cho bà để bà chú y đến những lời ông Phaolô nói” (Cv 16,14).Đây không chỉ là lý thuyết nhưng đã là kinh nghiệm sống của nhiều người. Cả mục sư P.Tillich và cha F.Varillon đều cùng chia sẻ một kinh nghiệm: Có những khi chuẩn bị rất kỹ và chắc chắn sẽ gặt hái thành công thì lại thất bại; có những khi gặp khó khăn và trở ngại trong việc chuẩn bị bài giảng, chỉ biết nương tựa vào tác động Thánh Thần thì lại thu hoạch kết quả không ngờ.Thế nên người giảng phải luôn đặt mình dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần, mới có thể chu toàn sứ vụ công bố Lời Chúa.3. Và những đòi hỏiSứ mạng thật cao cả những cũng kèm theo nhiều đòi hỏi.Trước hết phải trau dồi Lời Thiên Chúa, vì được sai đi là để công bố Lời Chúa chứ không phải lời của thế gian, cho dẫu lời ấy có khôn ngoan đến đâu chăng nữa: “Trong khi người Do Thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy Lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Kitô chịu đóng đinh, điều mà người Do Thái cho là ô nhục không thể chấp nhận và dân ngoại cho là điên rồ. Nhưng đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, dù là Do Thái hay Hy Lạp, Đấng ấy chính là Đức Kitô, sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa” (1Cr 1, 22-24).Đồng thời cũng phải trau dồi lời con người, nghĩa là khả năng nói, loan báo và rao giảng. Vì Thiên Chúa đã thương dùng môi miệng ô uế (Is 6,5) của ta mà loan báo Lời Ngài, thì phải trau dồi để có thể “sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của mình” (1P 3,15), biết dùng lời nói ngọt ngào mà nghiền nát xương tuỷ (Cn 25,15) và chinh phục các tâm hồn. Chính vì thế, người rao giảng Tin Mừng cũng phải quan tâm trau dồi những kỹ năng diễn đạt tư tưởng, và không lạ gì khi nhiều nhà giảng thuyết cũng là những khuôn mặt sáng ngời trong lịch sử nghệ thuật hùng biện.Như thế, công bố Lời Chúa vừa là một hồng ân vừa bao hàm một trách nhiệm. Là hồng ân vì con người tầm thường được Thiên Chúa mời gọi làm ngôn sứ. Là trách nhiệm vì phải nỗ lực để chu toàn sứ vụ. 4. Những hình thức rao giảng Lời Chúa trong Giáo HộiTác vụ Lời Chúa bao gồm 3 hình thức tiến triển theo 3 giai đoạn, có thể mô tả cách tổng quát như sau:a. CÔNG BỐ TIN MỪNG (Kerygma)• - Nội dung: Công bố Tin Mừng lần đầu về Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Thế, cũng như những sự kiện chính của lịch sử cứu độ. • - Đối tượng: Anh em lương dân chưa lãnh Bí tích Rửa Tội hoặc những người đã được Rửa Tội nhưng không giữ đạo, không hiểu rõ về đạo. • - Mục tiêu: Đón nhận Đức Kitô, hoán cải đời sống và tin vào Tin Mừng. • - Thừa tác viên: Mọi tín hữu trong Hội Thánh.b. HUẤN GIÁO (Catéchèse)• - Nội dung: Trình bày giáo lý có hệ thống. • - Đối tượng: Mọi người đã lãnh nhận Bí tích Rửa Tội, cần học hỏi sâu rộng hơn về mầu nhiệm Đức Kitô. • - Mục tiêu: Nhằm huấn luyện một đức tin trưởng thành. • - Thừa tác viên: Giáo dân cũng như linh mục.


c. GIẢNG LỄ (Homilia)• - Nội dung: Khai triển các bản văn thánh, trong khung cảnh phụng vụ và hướng dẫn đời sống cụ thể. • - Đối tượng: Cộng đoàn tín hữu tập họp trong các cử hành phụng vụ. • - Mục tiêu: Để sống đức tin và đức ái trưởng thành. • - Thừa tác viên: Linh mục, Phó tế. Giáo dân chỉ có thể tham gia theo tư cách đáp ứng, chứng từ qua kinh nghiệm bản thân.Trong thực tế, bài giảng lễ phải tuỳ nghi bao hàm cả hình thức công bố Tin Mừng (Kerygma) và Huấn giáo (Catéchèse) thì mới đầy đủ, nhất là trong khung cảnh hiện nay khi giáo dân chỉ đến Nhà thờ vào Chúa nhật, và họ cần được bồi dưỡng trong đời sống tôn giáo.Trách nhiệm lớn nhất của linh mục, như Hội Thánh đã dạy: “Vì Dân Thiên Chúa được quy tụ trước hết nhờ Lời của Thiên Chúa hằng sống, Lời mà người ta hoàn toàn được phép đòi hỏi nơi miệng các Linh Mục, nên các thừa tác viên thánh phải coi trọng nhiệm vụ giảng thuyết, và việc rao giảng Tin Mừng của Chúa cho mọi người phải là một trong những bổn phận chủ yếu của các ngài” (Giáo Luật 1983, điều 762).IV. ĐỂ THI HÀNH SỨ MẠNG TRUYỀN THÔNG LỜI CHÚATrong thời đại bùng nổ thông tin ngày nay truyền thông đã trở thành một ngành học được quan tâm và nghiên cứu sâu rộng. Là người có trách nhiệm thông truyền Lời Chúa, linh mục không thể quan tâm đến những nghiên cứu này, với mục đích duy nhất là để việc thông truyền Lời Chúa đạt được hiệu quả cao nhất. Một số nét căn bản về đặc tính và yếu tố trong hoạt động truyền thông, cách riêng trong lĩnh vực truyền thông bằng lời, quen gọi là diễn thuyết. 1. Những đặc tính của truyền thônga. Truyền thông là một tiến trình hai chiềuĐã gọi là truyền thông, giả thiết phải có người nói và người nghe. Người nghe có thể là một người, một nhóm hoặc cả một đám đông. Cả hai bên, người nói và người nghe, đều trao gửi và đón nhận một sứ điệp nào đó. Đừng tưởng người nói chỉ trao mà không nhận, và ngược lại, người nghe chỉ nhận mà không trao. Chẳng hạn, nghe một diễn giả thuyết trình, cử toạ có thể chăm chú lắng nghe, hay ngược lại, ngáp dài, ngủ gật, nói chuyện, bỏ ra về… Tất cả đều là những “sứ điệp” họ gửi đến diễn giả; và diễn giả cần nhạy bén với những “sứ điệp” đó để thích ứng kịp thời.b. Truyền thông là một tiến trình có mục đíchTrong hoạt động truyền thông, chủ thể luôn nhắm tới một mục đích, ví dụ: thuyết phục đối tượng về một giá trị, một công việc, một món hàng nào đó. Mục đích ấy còn ở xa trong hiện thực nhưng lại có mặt ngay từ đầu trong tâm trí, và âm thầm chi phối, hướng dẫn tất cả tiến trình suy nghĩ, trình bày, nhằm đạt đến mục tiêu mình theo đuổi. Diễn giả nói, không chỉ để nói, nhưng nhằm thuyết phục cử toạ thực hiện một đề nghị nào đó.c. Truyền thông là một tiến trình mang tính biểu tượngBiểu tượng là một cái gì không ngưng lại nơi chính nó, nhưng muốn khơi dậy, gọi về một nội dung khác. Trong hoạt động truyền thông, người ta sử dụng những biểu tượng nhằm chuyển tải tư tưởng, tâm tình của mình cho người khác.Trong lãnh vực diễn thuyết, diễn giả sử dụng ngôn ngữ để truyền thông tư tưởng của mình cho người nghe. Ngôn ngữ chính là một hệ thống ký hiệu và biểu tượng, nhằm khơi dậy người nghe những suy tư và cảm xúc giống như của diễn giả.Nói đến ngôn ngữ, lập tức ta nghĩ ngay đến ngôn ngữ bằng lời, nhưng thực ra, còn có cả ngôn ngữ không lời: cử chỉ, nét mặt, dáng vẻ, giọng nói… và thứ ngôn ngữ này đóng vai trò không kém quan trọng. Diễn giả thành công là người có khả năng sử dụng nhuần nhuyễn và hài hoà cả hai ngôn ngữ này.d. Truyền thông là một hoạt động gắn với môi trường sốngĐể đạt đến mục đích mong muốn, người làm công tác truyền thông phải quan tâm và thích ứng với môi trường mình đang có mặt. Diễn thuyết không chỉ là buông ra những lời nói, nhưng còn là làm thế nào để lời nói mang lại hiệu quả. Như vậy, diễn giả không chỉ quan tâm đến việc nói cái gì và thế nào, mà còn phải quan tâm đến việc nói ở đâu và khi nào. Mối quan tâm này thúc đẩy diễn giả chuẩn bị và thích ứng cung cách quy cách trình bày của mình với môi trường cụ thể.e. Truyền thông là hoạt động tập trung vào cử toạYếu tố then chốt trong truyền thông không phải là người nói, nhưng là người nghe, người đón nhận. Vì thế, nếu trong lãnh vực tiếp thị, người ta bảo “khách hàng là thượng đế”, thì trong lãnh vực diễn thuyết, “người nghe là vua”. Diễn giả phải đặt cho mình những câu hỏi về người nghe: Họ là ai? Trình độ hiểu biết của họ đến đâu? Tâm tư nguyện vọng thế nào? Họ sẽ hiểu và đáp ứng thế nào khi nghe tôi diễn thuyết? Nói cách khác, phải đặt mình vào hoàn cảnh của người nghe và tìm cách thích ứng để đạt hiệu quả mong muốn.f. Truyền thông là một tiến trình phức hợpNhững phân tích trên cho thấy truyền thông là cả một tiến trình phức hợp vì bao hàm nhiều yếu tố: Người nói, người nghe, sứ điệp, môi trường. Mỗi yếu tố lại mang nhiều khía cạnh đan xen lẫn nhau: thể lý, tâm lý, hiểu biết, tinh thần… Vì thế, để một hoạt động truyền thông hữu hiệu, không phải là điều dễ dàng. Ý thức này không làm nhụt chí, nhưng thúc đẩy linh mục chuẩn bị kỹ lưỡng, để việc truyền thông mang lại hiệu quả như lòng mong ước.2. Những yếu tố trong truyền thônga. Nguồn truyền thôngTrong lãnh vực diễn thuyết, nguồn truyền thông là diễn giả. Thông qua ngôn từ và biểu tượng, diễn giả thông truyền tư tưởng, cảm xúc của mình cho cử toạ. Diễn giả phải ý tức trách nhiệm của mình để có thái độ thích hợp. Có thể tóm tắt thái độ này là tôn trọng thính giả.Vì tôn trọng người nghe, người nói phải chuẩn bị kỹ lưỡng bài thuyết trình của mình: nghiên cứu, tìm tòi tài liệu, phân tích vấn đề… để người nghe khỏi mất thì giờ vô ích.Vì tôn trọng người nghe, người nói phải trình bày vấn đề với lương tâm ngay thẳng: tôn trọng sự thật, không xuyên tạc thông tin, không bóp méo chân lý… nhưng biết dùng hoạt động truyền thông để phục vụ chân, thiện, mỹ.Thái độ tôn trọng người nghe còn được thể hiện qua cung cách trình bày: không nói trên đầu người khác, không mạ sát cử toạ… nhưng kính trọng họ qua cách ăn nói, kể cả cách ăn mặc và những cử chỉ bên ngoài.b. Phương tiện truyền thôngMỗi ngành truyền thông lại có phương tiện khác nhau, như điện ảnh dùng ngôn ngữ ánh sáng, kịch nghệ dùng ngôn ngữ điệu bộ, cử chỉ… Trong lãnh vực diễn thuyết, phương tiện chủ yếu là ngôn ngữ (bằng lời và không lời). Người nói dùng ngôn ngữ để chuyển tải tâm tư tình cảm của mình cho người nghe. Vấn đề là làm sao cho người nghe nắm bắt được đúng những suy tư, cảm xúc của diễn giả; vì không nhất thiết cử toạ hiểu đúng những điều diễn giả muốn trình bày. Chính vì thế, diễn giả cần sử dụng ngôn ngữ sao cho sáng sủa, rõ ràng, dễ hiểu. Cần tránh những lập luận cao siêu vô ích, chỉ nhằm phô trương kiến thức, chứ không nhằm mục đích truyền thông. Cũng cần tránh những cử chỉ huênh hoang, kiêu căng, ngạo mạn… khiến người nghe hiểu sai điều ta muốn thông truyền.c. Sứ điệpĐã đành ngôn ngữ đóng vai trò cần thiết, đến nỗi có thể quyết định sự thành công hay thất bại của diễn giả. Tuy nhiên ngôn ngữ không thể chỉ là vỏ bọc hào nhoáng bên ngoài, để che đậy sự nghèo nàn, rỗng tuếch bên trong. Vì thế, chính sứ điệp truyền thông mới quan trọng. Diễn giả phải chuẩn bị kỹ lưỡng nội dung sứ điệp bằng việc suy nghĩ cho thấu đáo, lý luận vững chắc, tìm tòi tư liệu… Như thế mới mong mang lại hiệu quả lâu dài.d. Đối tượng truyền thôngĐối tượng ở đây được hiểu là người nghe. Nhìn một sự vật hay biến cố, luôn luôn là nhìn ở góc độc nào đó. Cũng vậy, nghe một sứ điệp, luôn luôn là nghe với một trạng thái có sẵn. Trạng thái này được hình thành bởi nhiều yếu tố: tri thức, tình cảm, môi trường, kinh nghiệm… Chính vì vậy, cũng cùng một sứ điệp nhưng lại tạo nên âm vang khác nhau nơi mỗi tâm hồn. Hiểu như thế, diễn giả cần quan sát, phân tích về cử toạ, đồng thời phải nhạy bén trước những phản ứng của thính giả, để thích ứng kịp thời, với mục đích làm cho việc truyền thông đạt hiệu quả cao nhất. (x. Bàn về mục vụ giảng thuyết, Lm Nguyễn Khảm).V. ĐỂ TRỞ NÊN NGƯỜI TRUYỀN THÔNG LỜI CHÚALãnh vực truyền thông có ảnh hưởng rất lớn trong thời đại hôm nay như lời nhận xét của F.Paul A. Soukup, S.J: Trong vòng 20 năm qua, chúng ta đã chứng kiến sự phát triển nhanh chóng của các phương tiện truyền thông trên hầu hết các khu vực của toàn thế giới. Nhờ phát minh được con chíp cực nhỏ mà các thiết bị viễn thông trở nên rẻ, nhỏ và dễ sử dụng hơn. Được sự hỗ trợ của các hệ thống truyền thông đang phát triển trên khắp thế giới, các phương tiện truyền thông này đã liên kết được với nhau, nối kết mọi người và mọi địa điểm thông qua các mạng thông tin toàn cầu (Internet), các mạng truyền thanh và các mạng truyền hình. Song song với sự phát triển cơ sở hạ tầng ấy, người ta cũng thấy việc thương mại hoá các mạng và các thiết bị tăng lên, kéo theo các cơ chế lập trình, quảng cáo và cả một nền văn hoá truyền thông đại chúng. Dựa trên những gì các nhà nghiên cứu đã khám phá về ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông tương đối “cũ” như truyền hình, chúng ta có thể biết được tại sao một thế giới truyền thông đang phát triển đã tác động lên xã hội loài người nói chung và thần học nói riêng bằng cách điểm qua chín lĩnh vực này…Với sự phân cách ngày càng tăng giữa văn hoá và tôn giáo, tôn giáo chỉ còn là một hoạt động trong nhiều hoạt động. Các linh mục hôm nay đang phải làm việc trong tình thế ấy. Họ phục vụ dân chúng sống trong nhiều nền văn hoá - trong khi họ cũng như toàn thể dân chúng đều bị tác động bởi cả khối lượng lớn lao của nền văn hoá truyền thông đại chúng. Và cứ như thế các linh mục phải trở thành người chuyên môn trong lĩnh vực đa văn hoá này…Trên hết, linh mục là người bước theo Đức Kitô - nhà truyền thông tuyệt vời - “sẽ đồng hoá mình với những người tiếp nhận sự truyền thông và sẽ trao gửi thông điệp không chỉ bằng lời nói mà còn bằng toàn bộ cách sống của mình” (Hiệp thông và tiến bộ, số 11).Với vai trò giảng dạy và rao giảng Tin Mừng, linh mục sẽ tận dụng mọi phương thế mình có được, từ truyền thông luôn luôn giữa người với người đến truyền thông qua các phương tiện và công nghệ kỹ thuật số. Muốn làm thế, người linh mục phải học cách diễn đạt riêng của mỗi phương thế: nghệ thuật tu từ, hình ảnh, lời nói. Vì khán thính giả ngày nay ngày càng tinh vi, nên việc truyền thông tôn giáo cũng phải tinh vi như thế, dù đó là sự tinh vi xuất phát từ sự đơn sơ. Sau cùng, linh mục còn đóng vai trò trung gian Lời Chúa và vì thế, là người “thông dịch” mạc khải. Những hình thức công bố xem ra phù hợp nhất với các vai trò này. (x. VietCatholic News 25/08/2005, "Thần Học Truyền Thông"; VietCatholic News 26/08/2005, "Giáo Hội và Internet"; VietCatholic News 27/08/2005, "Đạo Đức trong Truyền Thông" ( http://vietcatholic.net/news/ReadAll.aspx?Days=1>).Trách nhiệm truyền thông Lời Chúa thúc đẩy linh mục phải quan tâm đặc biệt đến việc chuẩn bị bài giảng chu đáo “để cho chính mình cũng như cho các tín hữu bảo đảm có được sự chuyển đạt Tin Mừng trong tính toàn vẹn của nó, linh mục được mời gọi trau dồi nơi mình một sự nhạy cảm, một trạng thái ứng trực và một sự gắn bó đặc biệt đối với truyền thống sống động của Hội Thánh và đối với huấn quyền. Tất cả mọi điều ấy, không xa lạ đối với Lời Chúa, nhưng góp phần làm cho việc cắt nghĩa Lời Chúa được chuẩn xác hơn và bảo vệ ý nghĩa chính hiệu cho Lời Chúa” (PDV, 26). Nhờ vậy để Dân Chúa có được của ăn tinh thần phong phú và Hội Thánh được phát triển vì “ nếu đời sống Hội Thánh được tăng triển nhờ năng nhận lãnh Bí Tích Thánh Thể, thì cũng thế, có thể hy vọng đời sống thiêng liêng đựoc đổi mới nhờ thêm lòng yêu mến Lời chúa, Lời hằng sống tồn tại đến muôn đời’”(MK, 26).
LM Giuse Nguyễn Hữu An

Thứ Sáu, 12 tháng 6, 2009

Kỷ Niệm Đệ Nhất Chu Niên - Thành Lập Hội Dòng Mến Thánh Giá Bà Rịa17.6.2008 - 17.6.2009

“Từ nguồn sung mãn của Người
Chúng ta lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác”
(Ga: 1,16)

Trải dài theo vòng xoay của thời gian, phút dừng chân mà ngước nhìn về trời cao để cảm nhận từ nguồn sung mãn của ân sủng Thiên Chúa, chúng ta đã được cưu mang và nuôi dưỡng, đặc biệt đối với chị em thuộc Hội Dòng Mến Thánh Giá Bà Rịa, Thiên Chúa đã làm cho quý chị em được sống và sống dồi dào trong hành trình hiến dâng và phục vụ.

Biến cố 1975 đã đưa chị em từ miền Trung vào miền Nam và chính nơi này Thiên Chúa đã trồng các chị em trong cánh đồng truyền giáo, để chị em trở thành cánh tay nối dài, nên chứng nhân sống động cho Tin Mừng của Chúa Kitô Chịu Đóng Đinh.

Quy luật tự nhiên của cuộc sống, mỗi người đều được mẹ cưu mang 9 tháng 10 ngày. Nhưng riêng đối với Hội Dòng Mến Thánh Giá Bà Rịa, đã được Mẹ Hội Dòng Mến Thánh Giá Huế cưu mang hơn 25 năm. Thời gian ấy đủ để nói lên bao nhọc nhằn, bao yêu thương của Mẹ Dòng dành cho ‘Người Con’ Mến Thánh Giá Bà Rịa trong kế hoạch ngàn đời của Thiên Chúa. Để hôm nay, khi đến thời, đến buổi, Thiên Chúa thực hiện kế hoạch yêu thương của Ngài.

Được sự chấp thuận của Hội Dòng Mẹ, của Đức Tổng Giám mục Stêphanô Nguyễn Như Thể, Tổng Giám Mục Giáo phận Huế và với sự chấp thuận của Thánh Bộ Phúc Âm Hóa Các Dân Tộc, Đức Giám Mục Tôma Nguyễn văn Trâm, Giám Mục Giáo phận Bà Rịa đã chính thức ban sắc lệnh thành lập Hội Dòng Mến Thánh Giá Bà Rịa vào ngày 01 tháng 05 năm 2008 và được công bố vào ngày 18 tháng 06 năm 2008. Hội Dòng Mến Thánh Giá Bà Rịa là Hội Dòng thứ 30 của Khối Mến Thánh Giá, được cùng đồng hành với 29 Hội Dòng Mến Thánh Giá khắp trên thế giới. Đây quả là một Hồng Ân lớn lao mà Chúa đã ban cách nhưng không.

Hồng ân tiếp nối hồng ân, Nguồn Sung Mãn của Chúa đã trào tràn và vẫn còn mãi tuôn đổ trên Hội Dòng Mến Thánh Giá Bà Rịa, nhờ vậy dịp mừng ‘Sinh Nhật Lần Thứ Nhất’, tức vào ngày 17 tháng 06 năm 2009, Hội Dòng Mến Thánh Giá Bà Rịa sẽ có thêm 8 chị em khấn trọn đời và 7 chị em khấn lần đầu. Đây là sự đánh dấu của bước đầu phát triển về nhân sự. Tính đến lúc này, với tổng số chị em khấn: 179; khấn trọn: 118 người, khấn tạm: 61, tập sinh: 15, tiền tập sinh: 6, đệ tử: 50. Được phân chia trong 20 cộng đoàn ở bốn Giáo phận: Giáo phận Bà Rịa 9 cộng đoàn, Giáo phận Xuân Lộc 6 cộng đoàn, Giáo phận Thành Phố Hồ Chí Minh 1 cộng đoàn, Giáo Phận Ban Mê Thuột 4 cộng đoàn.

Xin mọi người cùng hiệp ý cầu nguyện cho Hội Dòng Mến Thánh Giá Bà Rịa, đặc biệt cho các Tân Khấn Sinh ngày càng say mê tình yêu đối với Đức Kitô Chịu Đóng Đinh là đối tượng duy nhất của mình. Để chính tình yêu ấy là sức mạnh cho chị em trong đời sống hiến dâng và phục vụ.

Hội Dòng Mến Thánh Giá Bà Rịa

Sắc Lệnh Thành Lập Hội Dòng Mến Thánh Giá Bà Rịa

TÒA GIÁM MỤC BÀ RỊA
227 Cách Mạng Tháng Tám,
Phước Hiệp, Bà Rịa-Vũng Tàu. Việt Nam
(64) 737873 ,Số: 10-08/TGM

SẮC LỆNH THÀNH LẬP HỘI DÒNG MẾN THÁNH GIÁ BÀ RỊA

Các Nữ tu thuộc Hội Dòng Mến Thánh Giá Huế, từ năm 1975 đến nay, đã sinh sống và hoạt động tông đồ tại nhiều giáo phận khác nhau như Xuân Lộc, Bà Rịa, Sài Gòn và Buôn Ma Thuột.

Đức cố Giám mục Đaminh Nguyễn Văn Lãng, nguyên Giám mục Giáo phận Xuân Lộc, đã tập họp các nữ tu nầy lại và từ năm 1982, Ngài đã xin Đấng Bản quyền Nhà Mẹ Huế ban phép cho Ngài giúp họ sống đời thánh hiến tại Giáo phận Xuân Lộc và ban cho họ hưởng quy chế Miền Dòng Mến Thánh Giá Huế - Xuân Lộc, nhưng theo pháp lý trực thuộc Hội Dòng Mến Thánh Giá Huế.

Hiện nay, Miền Dòng Mến Thánh Giá Huế - Xuân Lộc gồm có 102 nữ tu khấn trọn và 62 nữ tu khấn tạm hiện diện tại 19 cộng đoàn tu sĩ trong các giáo phận nói trên. Các cộng đoàn nầy phát triển cách thành công về mọi mặt, đặc biệt về đời sống thiêng liêng, về việc điều hành quản trị, phương pháp đào tạo và các công tác tông đồ.

Để việc đón nhận, hướng dẫn các ơn gọi mới cùng việc huấn luyện các tu sĩ ngày càng thuận lợi hơn, đồng thời để các sinh hoạt mục vụ và tông đồ ngày càng đắc lực hơn, ngày 21 tháng 04 năm 2006 tại Huế, Tổng Tu Nghị Hội Dòng Mến Thánh Giá Huế đã quyết định chấp thuận cho Miền Dòng Mến Thánh Giá Huế-Xuân Lộc được tách khỏi Hội Dòng Mẹ để trở thành một Hội Dòng mới gọi là Hội Dòng Mến Thánh Giá Bà Rịa.

Đức Tổng Giám mục Stêphanô Nguyễn Như Thể, Giám mục Bản quyền Nhà Mẹ, đã phê chuẩn việc tách Miền Dòng Mến Thánh Giá Huế - Xuân Lộc ra khỏi Hội Dòng Mến Thánh Giá Huế bằng văn thư số 17/06/TTGMH ngày 13 tháng 05 năm 2006.

Nữ tu Anna Trần thị Hồng Túy, Tổng Phụ trách Hội Dòng Mến Thánh Giá Huế, ngày 20 tháng 05 năm 2006, đã xin Đức Giám mục Giáo phận Bà Rịa cho Miền Dòng Mến Thánh Giá Huế - Xuân Lộc được trở thành Hội Dòng Mến Thánh Giá Bà Rịa.

Đức Giám mục Tôma Nguyễn Văn Trâm, Giám mục Giáo phận Bà Rịa, với Văn thư số 009/NN/06/TGM ngày 26 tháng 06 năm 2006, đã tham khảo ý kiến của Tòa Thánh về việc thành lập nầy và Bộ Phúc Âm hóa các Dân tộc đã chấp thuận với Sắc lệnh số 3250/07 ngày 16 tháng 07 năm 2007.

Với lời thỉnh cầu của Hội Dòng Mến Thánh Giá Huế và sự chấp thuận của Thánh Bộ Phúc Âm hóa các Dân tộc, sau khi cầu nguyện và tham khảo ý kiến ban Tư vấn giáo phận, chiếu theo Giáo luât điều 579 về việc thành lập một hội dòng thuộc quyền giáo phận. NAY TÔI QUYẾT ĐỊNH THÀNH LẬP HỘI DÒNG MẾN THÁNH GIÁ BÀ RỊA với Nhà Mẹ tọa lạc tại Gx Xuân Sơn , hạt Bình Giã thuộc Giáo phận Bà Rịa.

Gồm tất cả các nữ tu trước đây thuộc Miền Dòng MTG Huế - Xuân Lộc

Với sắc lệnh nầy, tất cả các nữ tu thuộc Hội Dòng mới nầy vẫn giữ nguyên tình trạng lời khấn như hiện nay.

Ban Điều Hành tạm thời sẽ tổ chức một cử hành phụng vụ để công bố Sắc lệnh nầy và chính thức khai mạc Hội Dòng mới.

Làm tại Tòa Giám mục Bà Rịa, ngày 01 tháng 05 năm 2008
Lễ Thánh Giuse Thợ

+ Tôma NGUYỄN VĂN TRÂM
Giám mục Giáo phận Bà Rịa
(Ấn Ký)

Văn Phòng Tòa Giám Mục Bà Rịa
Lm GB Nguyễn văn Bộ
(Thư Ký)

Thứ Tư, 10 tháng 6, 2009

Cáo Phó: Đức Cha Micae Nguyễn Khắc Ngữ vừa tạ thế tại Long Xuyên

Trong niềm tín thác vào Chúa Kitô tử nạn và Phục sinh
Tòa Giám Mục Long Xuyên kính báo

ĐỨC CHA MICAE NGUYỄN KHẮC NGỮ
Giám Mục Tiên Khởi Giáo Phận Long Xuyên
đã được Chúa gọi về lúc 11g ngày 10 tháng 06 năm 2009, thọ 100 tuổi

Đức Cha Micae:
* Sinh ngày 02/02/1909 tại Vạn Đồn, huyện Thụy Anh, Thái Bình.
* 1922: Nhập Tiểu Chủng Viện Mỹ Sơn, Lạng Sơn.
* 1928: Du học tại Đại Chủng Viện Lucon, Pháp.
* 29/6/1934: Thụ phong Linh Mục tại Đại Chủng Viện Lucon, Pháp.
* 1934-1938: Giáo sư Tiểu Chủng Viện Mỹ Sơn, GP. Lạng Sơn.
* 1938-1939: Thư ký Tòa Khâm Sứ Tòa Thánh tại Huế,
kiêm Giám đốc tòa báo Sacerdos Indosinenses.
* 1940-1943: Coi Tiểu Chủng Viện Mỹ Sơn, GP. Lạng sơn.
* 1943-1951: Chánh xứ Lộc Bình và xứ Mỹ Sơn, GP. Lạng sơn.
* 1951: Tổng Đại Diện/ Cha Chính Giáo phận Lạng Sơn.
* 1954-1960: Chánh xứ Lạng Sơn, Xóm Mới, Gò Vấp và Quản Hạt Gò Vấp.
* 1957: Đặc ủy phó Công Giáo Tiến Hành Việt Nam.
* 1958: Xử lý thường vụ Công Giáo Tiến Hành Việt Nam.
* 8/1960: Phó Giám đốc kiêm Giáo sư môn Giáo Phụ và
Công Giáo Tiến Hành tại Đại Chủng Viện Lê Bảo Tịnh, Sàigòn.
* 24/11/1960: Tòa Thánh bổ nhiệm Giám Mục tiên khởi Giáo Phận Long Xuyên.
* Khẩu hiệu Giám mục: “Christus In Vobis” (Chúa Kitô trong Anh Chị Em).
* 22/01/1961: Lễ tấn phong Giám Mục tại Vương Cung Thánh
Đường Đức Bà Sàigòn do Đức TGM Pierre- Martin Ngô Đình Thục chủ phong
với sự thụ phong của hai Đức Cha Jean Cassaigne, M.E.P., và Thadeus Lê Hữu Từ, O. Cist.
* 04/04/1961: Nhậm chức Giám Mục Giáo Phận Long Xuyên.
* 30/12/1997: Hưu dưỡng tại Long Xuyên sau hơn 36 năm cai
quản Giáo Phận.
* 10/06/2009: Về nhà Cha lúc 11giờ. Thọ 100 tuổi.

CHƯƠNG TRÌNH TANG LỄ:

+ Ngày 10/06/2009: 19g00 Thánh lễ - Nghi thức tẩm liệm
+ Ngày 11/06/2009: Các lễ viếng do hạt Vĩnh Thạnh phụ trách
+ Ngày 12/06/2009: Các lễ viếng do hạt Tân Hiệp phụ trách
+ Ngày 13/06/2009: Các lễ viếng do hạt Rạch Giá phụ trách
+ Ngày 14/06/2009: Các lễ viếng do hạt Chợ Mới và Long Xuyên
phụ trách
+ Ngày 15/06/2009: 09g30 THÁNH LỄ AN TÁNG

* Các ngày 11,12,13,14 có Thánh Lễ vào các giờ: 8g, 10g, 12g, 14g, 16g
Xin hiệp ý cầu nguyện cho linh hồn Đức Cha được mau chóng về hưởng Tôn Nhan Chúa.

Kính báo
VP Tòa GM Long Xuyên

Thứ Ba, 9 tháng 6, 2009

Thánh lễ cầu nguyện cho Đức cha Bartolomeo Nguyễn Sơn Lâm, nhân ngày giỗ 6 năm

Một sự dấn thân hết mình vì giáo hội, được biểu hiện qua quyết định rời giáo phận Đà Lạt để về nhận giáo phận Thanh Hoá quê hương, một giáo phận bị thời thế vùi dập. Ngày khi nhận giáo phận Thanh Hoá, giáo phận chỉ còn 13 linh mục trên 60 tuổi, các cơ sở từ nhà thờ Chính Toà, Toà giám mục, Dòng Mến Thánh Giá đến các giáo xứ bị chiến tranh và hoàn cảnh lịch sử tàn phá. Nhưng qua 9 năm coi sóc, con số linh mục 13 đã lên tới 47 linh mục cho 46 giáo xứ, nhà thờ Chính toà, Toà giám mục, các nhà thờ trong các giáo xứ, giáo họ được tu sửa, xây mới hoặc mở rộng thêm...


Thanh hoá – Sáng hôm nay, ngày 9.6.2009, tại nhà thờ Chính Toà giáo phận Thanh Hoá, Đức cha Giuse Nguyễn Chí Linh, quý cha trong khu vực TGM đã long trong cử hành Thánh lễ cầu nguyện cho Đức Cha Bartolomeo Nguyễn Sơn Lâm nhân ngày giỗ 6 năm Đức Cha Cố Bartolomeo được Chúa gọi về.

Cùng tham dự trong thánh lễ có 8 thầy phó tế, 57 Đại chủng sinh, các nữ tu dòng Mến Thánh Giá Thanh Hoá, Dòng Saint Paul Đà Nẵng, các chú ứng sinh TCV Lê Bảo Tịnh cùng đông đảo bà con giáo dân thuộc giáo xứ Chính Toà đã về tham dự thánh lễ và cầu nguyện cho ngài.

Đôi nét tiểu sử

Đức Cha Bartolomeo Nguyễn Sơn Lâm, sinh ngày ngày 13 tháng 08 năm 1929 tại xứ Điền Hộ, thuộc làng Tùng Chính, Nga Sơn, Thanh Hoá.

  • 13/08/1940 - 11/ 06/ 1949 : Học Tiểu Chủng Viện Ba Làng.
  • 1949 - 1950 : Giúp xứ Đa Minh.
  • 1950 - 1951 : Giúp xứ Chính Tòa Thanh Hóa.
  • 1951 - 1954 : Học Đại Chủng Viện Xuân Bích Hà Nội.
  • 1954 - 1956 : Học Đại Chủng Viện Xuân Bích Vĩnh Long.
  • 1956 - 1957 : Học Đại Chủng Viện Xuân Bích tại Thị Nghè.
  • 29 - 06 - 1957 : Thụ phong linh mục ngày tại Nhà Thờ Chính Tòa Sài Gòn.
  • 1957 - 1959 : Làm việc trong Giáo phận Sài Gòn.
  • 1959 - 1960 : Gia nhập Hội Xuân Bích và đi du học tại Pháp.
  • 1960 - 1964 : Du học tại Rôma. Lĩnh bằng cử nhân thần học và tiến sĩ triết học.
  • 1964 - 1966 : Dạy học tại Đại Chủng Viện Xuân Bích Vĩnh Long.
  • 1966 - 1975 : Giám Đốc Đại Chủng Viện Xuân Bích Huế.
  • 30- 01- 1975: Được Toà Thánh bổ nhiệm làm Giám mục Giáo phận Đà Lạt
  • 17 - 03 - 1975: Thụ phong Giám mục tại nhà thờ Chính Tòa Sài Gòn.
  • Khẩu hiệu Giám mục : “CHÂN LÝ TRONG YÊU THƯƠNG”.
  • 19 - 03 - 1975: Nhận Giáo phận Đà Lạt.
  • 23 - 03 - 1994 : Được Toà Thánh bổ nhiệm làm Giám Mục Giáo phận Thanh Hóa.
  • 24 - 06 - 1994: Về nhận Giáo Phận Thanh Hóa.
  • Nguyên Chủ Tịch Uỷ Ban Phụng Tự của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam 3 khoá : 1986 – 1989 ; 1989 – 1992 ; 1992 – 1995.
  • Nguyên Tổng Thư ký Hội Đồng Giám Mục Việt Nam các khoá : 1995-1998 và 1998-2001.

Là một người yêu mến giáo hội

Trong thánh lễ an táng của ngài cách đây 6 năm, Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, nay là chủ tịch HĐGMVN, người thân cận và kế vị Đức Cha Cố Bartolomeo ở gp Đà lạt đã khẳng định : “Đức Cha Bartolomeo là người luôn hết mình vì giáo hội, cả cuộc đời của ngài đã dành cho giáo hội, tất cả các việc ngài làm là vì giáo hội...”

Điều này được minh chứng rõ nét trong cuộc đời của ngài, từ khi còn là chú đến thời chủng sinh, linh mục, giám mục, đặc biệt qua các chức vụ mà ngài đã đảm trách trong HĐGMVN.

Một sự dấn thân hết mình vì giáo hội, được biểu hiện qua quyết định rời giáo phận Đà Lạt để về nhận giáo phận Thanh Hoá quê hương, một giáo phận bị thời thế vùi dập. Ngày khi nhận giáo phận Thanh Hoá, giáo phận chỉ còn 13 linh mục trên 60 tuổi, các cơ sở từ nhà thờ Chính Toà, Toà giám mục, Dòng Mến Thánh Giá đến các giáo xứ bị chiến tranh và hoàn cảnh lịch sử tàn phá. Nhưng qua 9 năm coi sóc, con số linh mục 13 đã lên tới 47 linh mục cho 46 giáo xứ, nhà thờ Chính toà, Toà giám mục, các nhà thờ trong các giáo xứ, giáo họ được tu sửa, xây mới hoặc mở rộng thêm... nhiều truyền thống tốt đẹp trong các xứ đạo được ngài phục hồi, các nghi thức phụng vụ được ngài hướng dẫn cử hành cách chuẩn mực.

Trong sổ tất niên giáo phận ghi về ngài “...9 năm làm Giám mục Thanh Hoá, ngài thực sự đã phục hồi Thanh Hoá. Công lao của ngài đối với Giáo Phận không thể nói hết được”.

Chúa gọi về...

Ngày 09/6/2003, những tiếng chuông vang lên trên khắp giáo phận báo hiệu vị chủ chăn đã về với Chúa để lại trong lòng mỗi người con giáo phận niềm thương tiếc, kính trọng và biết ơn sâu sắc.

Lòng hiếu thảo của những người ở lại

Hôm nay, Giám mục, linh mục, tu sĩ, chủng sinh và giáo dân trong giáo phận cử hành thánh lễ cầu nguyện cho ngài như là tâm tình của những người con hiếu thảo dâng lên để ghi nhớ công ơn của ngài đã dành cho giáo phận Thanh Hoá thân yêu.

HÌNH ẢNH VỀ NGÀY LỄ