Thứ Năm, 3 tháng 11, 2011

Tháng các Linh hồn, tìm hiểu việc Chúa Giêsu xuống Ngục Tổ tông




Trong tháng các Linh hồn, việc chúng ta tìm hiểu để tưởng nhớ và cầu nguyện đặc biệt cho Ông Bà Tổ Tiên cũng như người thân yêu đã qua đời là điều quan trọng cần thiết mang đầy ý nghĩa. Điều đó không chỉ thực hiện nghĩa vụ báo hiếu mà còn chuẩn bị cho chúng ta nhớ đến quê hương trên Trời và cảm nghiệm được tình yêu vô bờ bến của Thiên Chúa, Đấng đã chịu đau khổ, chịu chết, chịu mai táng trong mồ và xuống ngục tổ tông, để ban ơn cứu độ cho những người đã chết trước đó, ngay lúc đó và mãi mãi đến muôn đời.

“Đức Giêsu xuống âm phủ” là một tín điều được ghi rõ ràng trong kinh Tin kính, một tín biểu đức tin mà chúng ta vẫn thường hay đọc. Khởi đi từ mạc khải (x.1Pr 3,18tt) và được Giáo lý Hội Thánh Công giáo long trọng minh xác (số 635-636), tín điều này nói lên một ý nghĩa thâm sâu trong mầu nhiệm cứu độ, liên quan trực tiếp đến việc Đức Giêsu chịu chết, chịu mai táng trong mồ và đã phục sinh vinh hiển.

Tuy nhiên, tín điều này thường bị lãng quên; có lẽ là do sự thiếu hiểu biết hoặc là hiểu biết chưa đúng về nội dung, người ta chưa thấu đáo về tầm quan trọng cũng như ý nghĩa thần học của định tín mà Giáo Hội muốn nói? Đây chính là tính cấp thiết, mục đích, nội dung và ý nghĩa của chủ đề mà người viết nhắm đến: thử tìm lại một cái nhìn hệ thống về tín điều “Đức Giêsu xuống âm phủ”.

Quả thế, bài viết này sẽ lần lượt tìm hiểu quan niệm chính thống của Giáo Hội về “ngục tổ tông”, lịch sử phát triển vấn đề, xác định đây là một định tín bắt nguồn từ Mạc Khải và ý nghĩa thần học rồi kết thúc trong niềm hy vọng lớn lao về ơn cứu độ.

I. Khái quát về âm phủ hay ngục tổ tông

Là Kitô hữu, đã rất nhiều lần chúng ta đọc hay ít là nghe người khác nói về “âm phủ” hay “ngục tổ tông”: trong kinh tin kính, trong nhiều đoạn Thánh Kinh hay trong giáo lý phổ thông hoặc một lần nào đó trong bài giảng của một linh mục mà vô tình ta nghe được. Tuy nhiên, hiểu khái niệm đó ra sao, nó được biết đến và duy trì trong niềm tin của Giáo Hội như thế nào lại là điều không dễ và mấy ai biết được?

1. Khái niệm

Cụm từ “xuống ngục tổ tông” được dịch từ kinh Tin kính bản Latinh là “descendit ad inferos” mà đúng ra phải dịch là “xuống âm phủ”. Thuật ngữ “inferi” hay “infers” trong câu kinh Tin kính trên đây được dịch từ Sheol của Do Thái hay Hades của Hy Lạp có nghĩa là “nơi ở của người chết” hay là “âm phủ”, “âm ty” chứ không có nghĩa là hoả ngục, địa ngục hay là tình trạng bị luận phạt giống như một số người quan niệm. Do đó có thể định nghĩa ngục tổ tông hay âm phủ là chỗ an nghỉ của những người đã chết. Trước khi Đấng Cứu Thế đến, mọi người chết, lành hay dữ đều phải vào đó. Ở đó, họ không được nhìn thấy Thiên Chúa và chờ đợi Đấng Cứu Thế. Số phận của họ không giống y hệt nhau, như Đức Giêsu đã cho thấy trong ví dụ về Lazarô nơi cung lòng Abraham (x.Lc 16,22-26) [1].

Đây là một thuật ngữ rất khó hiểu mà khi tìm đọc các sách chú giải, chúng ta nhận thấy hầu hết các tác giả đều quy chiếu nguồn gốc sự khẳng định Chúa Kitô xuống ngục tổ tông được lấy từ đoạn thư thứ nhất của thánh Phêrô 3, 18-20, rằng “… thân xác Người đã bị giết chết, nhưng nhờ thần khí, Người đã được phục sinh. Người đã đến rao giảng cho các vong linh bị giam cầm…”. Theo đó, phát xuất từ quan niệm của Cựu ước, thuật ngữ Sheol được người Do thái hiểu là “nhà hội ngộ của hết mọi nhân sinh” (G 30, 33), nơi tất thảy chư sinh đều phải xuống (x.Ed 31, 14) để mà cảm nếm cảnh bất lực, thất vọng vì “bị Thiên Chúa lãng quên” (x.Tv 6,6; 38,6; 88, 6-9…). Các nền văn hoá vùng Địa Trung Hải ngày xưa cũng quan niệm như vậy.

Rõ ràng là người Do Thái và ngay cả Kitô giáo trong suốt một thời kỳ lịch sử lâu dài đã phân định vị trí rõ ràng cho thế giới, nào là thiên đàng, hoả ngục, luyện ngục, lâm-bô… để rồi “tìm địa chỉ” cho từng người sau khi chết tuỳ thuộc vào tình trạng cuộc sống của họ. Quan niệm này đã trở nên lỗi thời khi người ta đọc và giải thích Kinh Thánh không quá lệ thuộc vào ý nghĩa văn tự nữa. Điều đó cũng phù hợp với sự tiến bộ về nhận thức của con người trong tương quan với khoa học và vũ trụ. Chúng ta sẽ trở lại với vấn đề này sau, nhưng ngay bây giờ phải khẳng định rằng các nhà thần học hiện đại không còn phân định thế giới ấy trong các giới hạn như vậy mà nhìn nhận các vấn đề thiên đàng, hoả ngục như là những trạng thái hạnh phúc và đau khổ của con người sau khi chết [2].

2. Tiến trình phát triển của định chế này

Trước hết, trong Giáo Hội vẫn đồng thời tồn tại hai bản tuyên tín (mà ta thường gọi là kinh Tin kính): bản tuyên tín các Tông đồ và bản tuyên tín của Công đồng Nicée (325) – Constantinople (381). Trong bản tuyên tín các Tông đồ, tín điều Chúa Giêsu xuống ngục tổ tông được khẳng định ngay từ thời Giáo hội sơ khai và được Kitô giáo trung thành gìn giữ qua các thế hệ [3]. Còn trong truyền thống Giáo Hội, định chế này lại được nhắc đến khá muộn, không phải trong lần họp công đồng chung đầu tiên, công đồng Nicée năm 325, mà chỉ xuất hiện trong tín biểu thế kỷ thứ V, công đồng Cachédoine năm 450, khi công đồng này chấp nhận và hoàn chỉnh bản tuyên tín của công đồng Nicée –Constantinople [4].

Từ đó, tín điều Đức Giêsu xuống ngục tổ tông mặc nhiên coi như được Giáo Hội thừa nhận và thuộc về nội dung của đức tin Kitô giáo. Công đồng chung Laterano IV chấp nhận chung kết vào năm 1215, và công đồng Lyon II trong bản tuyên xưng đức tin của Michele Paleologo năm 1274 đã tái khẳng định lại.

Tuy nhiên, bản kinh Tin kính chúng ta đọc trong thánh lễ hiện nay lại không còn công thức “Đức Giêsu xuống ngục tổ tông” này nữa [5]. Nhưng giáo lý Hội Thánh Công giáo vẫn long trọng xác định việc “Đức Giêsu xuống ngục tổ tông”, từ số 631 đến số 637 [6]. Phải chăng là có gì khúc mắc trong sự khác biệt này? Liệu có phải là thần học hiện đại đã có cái nhìn mới về tín điều này chăng?

II. Đức Giêsu xuống ngục tổ tông

Có rất nhiều ý kiến khác nhau khi bàn luận về tín khoản Đức Giêsu xuống ngục tổ tông. Tuy nhiên, vì tính phức tạp của vấn đề mà các nhà thần học đều thống nhất “…chỉ có thể hiểu được tín khoản Đức Giêsu xuống ngục tổ tông khi chúng ta đặt nó trong tương quan với các Chân Lý Đức Tin khác, tức là nại đến một vũ trụ học, một nhân loại học, một cứu độ học … và một cánh chung học. Đồng thời giải thích tín khoản đó thông qua việc đào sâu ý nghĩa nhiệm mầu của nó.” [7].

1. Một tín điều mạc khải

Ngay từ phần mở đầu, chúng ta đã khẳng định tín khoản này có nền tảng vững chắc từ Kinh Thánh, đã được tiên báo từ thời Cựu ước và hiện thực hoá trong thời Tân ước. Quả thế, chúng ta sẽ chỉ dẫn các gợi ý của Cựu ước và minh xác của Tân ước, đồng thời xem xét đến quan điểm của Huấn quyền cũng như các giáo phụ và một số nhà thần học hiện đại về định chế này.

Trước hết, Kinh Thánh Cựu ước đã nhiều lần, qua nhiều thời đại nói đến tình trạng “ngục tổ tông”, một tình trạng mọi người sau khi chết đều thuộc về đó (như đã nói ở mục I) mà tự sức con người bất lực và chỉ cậy trông sự giải thoát của Đấng cứu độ. Isaia viết “Nơi âm phủ chẳng ngợi khen Ngài được và sự chết chẳng tôn vinh Ngài được, những kẻ đã xuống mồ rồi chẳng còn trông cậy vào lòng Chúa tín trung” (Is 38,18). Tác giả Thánh vịnh cũng viết “Chốn tử vong ai nào nhớ Chúa, nơi âm phủ ai ngợi khen Ngài?” (Tv 6,6) hoặc “Chúa được lợi gì khi con phải chết, được ích chi nếu con phải xuống mồ? Nắm tro tàn làm sao ca tụng Chúa, và tuyên dương lòng thành tín của Ngài?” (Tv 30, 10). Từ đó, một ánh sáng loé lên, một niềm hy vọng dâng trào và một lời tiên báo khai mở. “Cho kẻ chết mà Chúa sẽ làm phép lạ sao? Những kẻ qua đời sẽ chỗi dậy để ca ngợi Chúa? Sự nhân từ Chúa sẽ được truyền rao trong mồ mả sao? hoặc sự thành tín Chúa được giảng trong vực sâu ư? Các kỳ công Chúa sẽ được biết trong nơi tối tăm sao? Và sự công chính của Chúa sẽ được rõ trong xứ bị bỏ quên ư?” (Tv 88, 10-12) [8].

Đó là những những quan niệm của người Do Thái về thế giới sau khi chết, chúng ta phải nhớ rằng toàn thể vấn đề này cần phải được suy nghĩ, không phải là về địa ngục như có khi chúng ta hiểu lầm từ ấy, nhưng là việc Chúa Kitô đã đến với những kẻ chết trong thế giới âm u tối tăm của họ, để cứu thoát họ ra khỏi đó.

Thứ đến, Kinh Thánh Tân ước mới là nền tảng cho tín khoản chúng ta đang nói tới. Giáo lý về việc Đức Giêsu Kitô xuống âm phủ trong tín biểu đức tin được đặt nền tảng trên hai mệnh đề trong thư thứ nhất của thánh Phêrô tông đồ: “Người đã đến rao giảng cho các vong linh bị giam cầm” (1Pr 3,19) và “quả thật, chính vì thế mà Tin Mừng đã được loan báo ngay cho cả những kẻ chết, để tuy bị phán xét về phần xác theo cách nhìn của loài người, họ được sống về phần hồn theo ý định của Thiên Chúa” (1Pr 4,6).

Nhiều đoạn khác trong Tân ước cũng đã trực tiếp hay gián tiếp nói đến tín khoản đó. Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Êphêsô đã nói: “Đức Giêsu đã xuống tận các vùng sâu thẳm dưới đất, Đấng đã xuống cũng là Đấng đã lên và dẫn theo một đám tù” (Ep 4,9-10). Hay là trong Công vụ tông đồ 3,15; hay Rm 8,11; hoặc 1Cr 15,20… cũng nói việc Đức Giêsu “chỗi dậy từ cõi chết”, tức là trước khi sống lại, Người đã ở nơi kẻ chết (x.Dt 3,20).

Giáo lý Hội Thánh Công giáo số 635 cũng đã nêu lại các quan điểm của Kinh Thánh để khẳng định “Đức Giêsu xuống âm phủ để kẻ chết nghe tiếng Con Thiên Chúa và ai nghe thì được sống (Ga 5,25). Đức Giêsu, Đấng khơi nguồn sự sống (Cv 3,15). Đã nhờ cái chết của người, tiêu diệt tên lãnh chúa gây ra sự chết, tức là ma quỷ, và đã giải thoát những ai vì sự chết mà suốt đời sống trong tình trạng nô lệ (Dt 2,14-15)”.

2. Quan điểm của một số Giáo phụ và thần học gia hiện đại

Truyền thống thần học xa xưa của Giáo Hội cho rằng những người chết không thực sự được hưởng hạnh phúc Thiên đàng khi Đức Giêsu Kitô chưa thực hiện chương trình cứu chuộc. Một tác giả ở thế kỷ thứ V, Domatius viết “Trước khi Chúa Giêsu chịu nạn, mọi linh hồn các thánh bị giam cầm trong hoả ngục do món nợ của Ađam, cho tới khi được giải thoát khỏi ách nô lệ, do quyền lực của Chúa, nhờ cái chết vô tội của người trên thánh giá” [9].

Từ lâu lắm, Justin tử đạo đã từng đặt nghi vấn và đi đến kết luận: “Đức Chúa, Thiên Chúa của Israel, nhớ lại kẻ chết của Ngài đang ngủ trong lòng đất và xuống với họ để nói cho họ biết về Phúc Âm cứu rỗi” [10].

Thánh Grégerio Cả đã không ngần ngại quả quyết việc Đấng Cứu Thế đích thân xuống tận phòng giam của hoả ngục để giải cứu các linh hồn công chính về nơi an nghỉ. “Vì từ khi Đấng Tạo Hoá và cứu chuộc chúng ta đã vào trong các phòng giam của hoả ngục, đưa linh hồn những người được Thiên Chúa chọn ra, Người không để chúng ta đi vào nơi mà Người đã xuống để giải cứu những người ở đó. Nhưng những ai đã sinh ra trước khi Chúa đến, dù họ công chính đến đâu, khi ra khỏi xác họ cũng không thể nào được đón nhận tức khắc vào trong lòng quê hương Thiên Quốc. Bởi vì Đấng ấy chưa đến, Đấng sẽ phá các phòng giam của hoả ngục khi xuống đó và đưa những linh hồn công chính vào nơi an nghĩ vĩnh cửu” [11].

Thánh Thomas Aquino trong bộ tổng luận thần học cũng có cùng một lập luận. Theo ngài, linh hồn của những người công chính trước Chúa Cứu Thế đến trần gian đều ở trong bóng tối của sự vắng bóng Thiên Chúa. Chỉ khi Đức Kitô hoàn tất công trình cứu độ, xuống âm phủ giải cứu các vong linh ở đó, đập tan bóng đêm sự chết và đem ánh sáng cho gian trần thì họ mới được lên Thiên đàng [12].

Nhìn chung, từ thế kỷ thứ XIII về trước, dưới nhãn quan phân chia thế giới thành các “vùng” trần gian, thiên đàng, hoả ngục… nên khi giải thích tín điều xuống âm phủ cũng mang màu sắc đó. Như đã đề cập ở mục I, các thần học gia hiện đại không còn nhìn nhận như vậy nữa vì nó gợi lên trong tâm trí nhiều người thời hiện đại hình ảnh lỗi thời về trời, đất, địa ngục. Nhất là khi ngành khảo cổ học, sinh vật học và thiên văn học có nhiều phát minh mới, làm thay đổi những nhãn quan của thời trung và cổ đại về thế giới. Do đó, chúng ta có những cách hiểu tín điều xuống ngục tổ tông theo tinh thần của thần học hiện đại khởi từ ánh sáng của Công đồng Vatican II.

Hồng y Ratzinger cho rằng: “Khi chúng ta nói Đức Giêsu xuống ngục tổ tông là chúng ta đụng đến một ý nghĩa mang tính mầu nhiệm. Chúa Giêsu trở nên tăm tối trong sự chết như chúng ta chiêm ngưỡng những đêm giá lạnh trong nấm mồ. Ở đó chỉ có sự thinh lặng thăm thẳm, sự thinh lặng của mạc khải” và ngài còn nói thêm “Sự thinh lặng khôn dò, sự thinh lặng không hiểu nỗi và không thể hiểu được. Một khía cạnh của mầu nhiệm cứu chuộc vượt quá sự hiểu biết của con người” [13].

Nhà chú giải Kinh Thánh Wlliam Barclay cũng chung một nhận định như vậy, rằng khi giải thích đoạn thư của Phaolô về việc Đức Giêsu xuống âm phủ, ông nói “chúng ta đang gặp một trong những đoạn khó hiểu nhất của Kinh Thánh và nếu muốn hiểu phần nào, không còn cách khác là thắt lưng tâm trí tìm biết ý nghĩa của nó” [14]. Xin được thêm vào đây rằng sự phức tạp và khó hiểu của tín khoản này làm cho nhiều người khi đọc kinh tin kính đã nói câu “Ngài đã xuống ngục tổ tông” hoặc là vô nghĩa hoặc là gây bối rối hoang mang, nên đã ngầm đồng ý với nhau bỏ qua hay quên phắt đi. Và chúng ta, đã đến lúc phải nghiêm túc tìm hiểu những ý nghĩa đích thực sâu xa mà Giáo hội gửi gắm trong đó.

3. Ý nghĩa đích thực của tín điều này

Như đã nói ở trên, chúng ta chỉ có thể hiểu ý nghĩa của thành ngữ “xuống âm phủ” nếu biết xét nó trong tương quan duy nhất và toàn thể của mầu nhiệm phục sinh, tức nối liền với những thành ngữ đi trước và sau: “Chịu đóng đinh trên cây thánh giá, chết và táng xác, xuống ngục tổ tông, ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại” [15]. Trong sự thống nhất này, tín khoản Đức Giêsu xuống ngục tổ tông chứa đựng ba chân lý quan trọng căn bản sau:

Thứ nhất, Đức Giêsu không chỉ nếm trải sự chết mà còn uống cạn chén của sự chết. Nghĩa là Ngài đã có chết, chết thật. Sự chết của Ngài không phải là một màn nguỵ tạo trong một vở tuồng. Sự chết đó không thể được giải thích bằng sự ngất đi trên thập giá hay bất cứ điều gì tương tự mà giới y khoa thường nêu ra; nhưng Ngài đã thực sự trải qua sự chết và đã sống lại hiển vinh. Mầu Nhiệm Phục Sinh thật lớn lao và ý nghĩa!

Thứ hai, ơn cứu độ mà Đức Giêsu mang lại có ý nghĩa phổ quát cho hết mọi người, ở mọi thời đại. Mầu nhiệm nhập thể đã từng cho thấy, Người đã xuống, đã tự huỷ mình lĩnh lấy thân phận tôi đòi (x.Pl 2,4-7). Vậy, việc xuống ngục tổ tông là điểm đánh dấu độ sâu thẳm vô cùng của sự tự huỷ ấy, hầu cứu chuộc nhân loại khỏi hư mất. Đây là một nội dung mạc khải về tình yêu vô bờ bến của Thiên Chúa đối với nhân loại. Méliton, một giám mục thành Sardes vào thế kỷ thứ hai đã đặt vào miệng Đức Giêsu những lời: “Chính Tôi đã tiêu diệt sự chết và đã chiến thắng kẻ thù. Tôi đã vào âm phủ, đã trói hung thần dưới đó lại và đã dẫn người ta lên trời”.

Về mặt thần học, khó có thể lý giải cách thức mà Đức Giêsu đã xuống âm phủ như thế nào, linh hồn Người tách ra khỏi xác rồi xuống ngục tổ tông? Hay chính “hồng ân cứu độ” được ban tặng cho các linh hồn trong âm phủ ngay khi Ngài hoàn tất chương trình cứu chuộc? hoặc là cách thức khác? Giáo Hội không quả quyết điều đó mà chỉ khẳng định chắc chắn rằng tín điều Đức Giêsu xuống âm phủ đã làm rung chuyển vương quốc của sự chết, của tội lỗi và của quyền lực sa tan; đến nỗi, giờ đây, khi nghe danh thánh Giêsu, mọi gối đều phải bái quỳ, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ (x.Pl 2,10); đồng thời khơi nguồn sự sống và sống dồi dào cho nhân loại (x.Cv 3,15).

Thứ ba, Chúa Giêsu đã xuống âm phủ và rao giảng Tin Mừng ở đó thì không có chỗ hiểm hóc nào trong vũ trụ này mà sứ điệp về ân sủng đã không được rao giảng. Điều này chứa đựng lời giải đáp cho vấn nạn mà Kitô giáo đặt ra: Số phận của những người đã sống trước Chúa Giêsu đến thế gian và những người chưa hề được nghe giảng Phúc Âm? Giáo lý về việc Chúa Giêsu xuống âm phủ bảo vệ được chân lý quý báu là không hề có một người nào từng sống mà lại bị Chúa Kitô bỏ quên không nhìn tới và không được đề nghị ban cho ơn cứu rỗi của Thiên Chúa [16].

Đây chính là những nội dung và cũng là những ý nghĩa mà Giáo lý Hội Thánh Công giáo không ngừng khẳng định trước những khó khăn vốn có của thời đại “Tin Mừng được loan báo cho kẻ chết… và từ nay, Đức Giêsu Kitô phục sinh nắm giữ chìa khoá sự chết và âm phủ” (GLCG số 634-635).

4. Niềm hy vọng lớn lao cho chúng ta

Những khó khăn trong việc giải thích tín khoản này không làm cho chúng ta quên rằng tình yêu của Thiên Chúa vượt thắng và làm sáng tỏ hết tất cả, đã được mạc khải dứt khoát và trọn vẹn trong Đức Kitô, ngay cả trong những lúc và ở những nơi mà con người chúng ta hoàn toàn bó tay. Mầu nhiệm phục sinh tạo thành một thất bại thường trực và liên lỉ cho những mãnh lực tối tăm, tháo gỡ gông cùm tội lỗi cho nhân loại. Đó là hy vọng lớn lao cho hết mọi người, còn sống cũng như đã chết.

Tín điều Đức Kitô xuống ngục tổ tông, nhìn trong bối cảnh mầu nhiệm phục sinh, hàm chứa một sự thật đầy an ủi cho chúng ta. Nó giúp chúng ta hiểu rằng vực sâu sự chết, vốn hằng mở ra trước mắt chúng ta, một vực sâu tăm tối và đầy bí ẩn, cũng không quá vô tận và bất khả dò thấu nhờ việc Chúa Kitô xuống âm phủ, mầm mống của sự sống lại tái sinh, ánh sáng lại dọi chiếu vào đêm tối mịt mù.

Như thế, khởi từ Thánh Kinh, tín biểu các Tông đồ đã xác định việc Đức Kitô xuống ngục tổ tông như một hệ quả tất yếu từ cái chết của Người. Đây là một cách dùng hình ảnh nói lên ý nghĩa Chúa Giêsu chết là một sự thật hiển nhiên, vì Người đã đi đến nơi mọi người đúng lẽ cư ngụ sau khi đã qua đời. Truyền thống Cựu ước gọi nơi đó là cỏi âm ty, tức thế giới cỏi chết. Khi nói Chúa Giêsu xuống ngục tổ tông hàm ý nói Người chỉ thật sự phục sinh sau khi đã chết thật. Sự phục sinh trở nên ơn cứu độ dành cho tất cả mọi người, đã qua đời cũng như còn sống.

Công đồng Vatican II trong Hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng, viết: "Chúa Kitô đã đem lại chiến thắng ấy khi Người sống lại, và nhờ cái chết của Người, Người đã giải phóng con người khỏi sự chết... đồng thời, còn cho con người có khả năng hiệp thông với những người anh chị em thân yêu đã chết trong Chúa Kitô và làm cho chúng ta hy vọng rằng những người ấy đã được sống thực trong Thiên Chúa." (MV số 18b).

Còn thánh Phaolô Tông đồ đã xác quyết đầy hy vọng trong thư gửi tín hữu Thesalonica:"Vì nếu chúng ta tin rằng, Đức Kitô đã chết và đã sống lại, thì chúng ta cũng tin rằng những người đã an nghĩ trong Đức Kitô, sẽ được Thiên Chúa đưa về cùng Đức Kitô. Dựa vào lời Chúa, chúng tôi nói với anh chị em điều nầy là chúng ta, những người đang sống, những người còn lại vào ngày Chúa quang lâm, chúng ta sẽ chẳng đi trước những người đã an giấc ngàn thu đâu; vì khi lệnh ban ra, khi tiếng Tổng Lãnh Thiên Thần và tiếng kèn của Thiên Chúa vang lên, thì chính Chúa sẽ từ trời ngự xuống, và những người đã chết trong Đức Kitô sẽ sống lại trước tiên, rồi đến chúng ta là những người đang sống, những người còn lại, chúng ta sẽ được đi trên đám mây cùng với họ, để nghênh đón Chúa trên không trung. Như thế, chúng ta sẽ được ở cùng Chúa mãi mãi." (1Tx 4, 14-16).

Tóm lại, trong Tháng Các Linh hồn, việc chúng ta tìm hiểu để tưởng nhớ và cầu nguyện đặc biệt cho ông bà tổ tiên và người thân yêu đã qua đời là điều quan trọng cần thiết mang đầy ý nghĩa. Điều đó cũng chuẩn bị cho chúng ta nhớ đến hương trên Trời và cảm nghiệm được tình yêu vô bờ bến của Thiên Chúa, Đấng đã chịu đau khổ, chịu chết, chịu mai táng trong mồ và xuống ngục tổ tông, để ban sự sống cho những người đã chết trước đó, ngay lúc đó và mãi mãi đến muôn đời. Alleluia.


Khoa học làm sáng tỏ bí mật Đức Mẹ Guadalupe sau hơn 400 năm

Tác giả: Giáo sư PHILIP CALLAHAN (*)

Một ngày đẹp trời 12-12-1531, Juan Diego -một trong những người gia nhậo Công giáo sớm nhất ở Mexico- không thể mơ có một ngày ông lại có thể được đặt trên bàn thờ cho Giáo Hội hoàn vũ tôn kính.

Juan Diego trên đường tới nhà thờ sáng sớm hôm đó thì ông lại nghe tiếng nói ngọt ngào của một Phụ Nữ Đẹp hiện thực trước mắt mình tại chân đồi Tepeyac ở ngoại ô TP Mexico vào 2 ngày trước.

Phụ Nữ Đẹp ấy lặp lại ước muốn của Bà là có một teocali (nhà nguyện) được xây nơi Bà hiện ra. Juan Diego nói với Phụ Nữ Đẹp rằng ĐGM Juan Zumarraga đòi bằng chứng xác thức về yêu cầu này. Đức Mẹ đã bắt buộc. Theo hướng dẫn của Đức Mẹ, Juan Diego lấy một bó hoa hồng Castilian mà Đức Mẹ xếp trên tilma (khăn choàng) của Người. Ông sẽ đưa bó hoa hồng đó cho ĐGM. Những đóa hồng Castilian lạ lùng nở vào mùa Đông! Juan Diego vội vã đến gặp ĐGM. ĐGM và mọi người có mặt đều sửng sốt trước những đóa hồng thơm ngát khi Juan Diego mở khăn choàng ra và có hình vẽ một Phụ Nữ Đẹp cao 143 cm với nước da hơi sẫm.

Đó là câu chuyện hay về Đức Mẹ Guadalupe. Hình ảnh Đức Mẹ được bao quanh bằng những tia nắng, dưới chân Đức Mẹ có vầng trăng lưỡi liềm và một thiên thần nâng Đức Mẹ lên. Đức Mẹ mặc áo choàng màu xanh có những ánh sao vàng, bên trong là áo dài hồng kết những nụ hồng viền vàng. Chiếc đai lưng màu đỏ tía thắt quanh eo như các thai phụ Aztec vẫn sử dụng.

Đức Mẹ yêu cầu Juan Diego gọi Đức Mẹ là coatloxopeuh (theo tiếng Aztec Ấn độ ở vùng Nahuatl nghĩa là “người đạp rắn”). Về lịch sử, đó là một phần văn hóa Aztec thời đó, hàng năm có ít nhất 20.000 đàn ông, phụ nữ và trẻ em làm vật hy sinh tế thần. Nhờ Đức Mẹ Guadalupe hiện ra với Juan Diego, hàng triệu người đã trở lại Kitô giáo, như vậy việc đạp con rắn là sự sùng bái thần tượng (idolatry). Khăn choàng đầu của Juan Diego được làm bằng sợi thô, không hoàn toàn thích hợp để vẽ. Nghiên cứu khoa học đã tìm hiểu khăn choàng đó từ năm 1666 với các họa sĩ, bác sĩ và khoa học gia. Các phát hiện của họ cho thấy như sau: Các đặc điểm lạ lùng của hình ảnh đó vượt ngoài tầm hiểu biết của khoa học; hình ảnh đó không thể do con người vẽ; màu sắc “kết hợp chặt chẽ” vào thớ vải; chất màu được dùng không rõ nguồn gốc. Hơn nữa, tấm khăn choàng đó làm bằng sợi đặc biệt, chỉ có loại đó còn sau 476 năm.

Renzo Allegri, trong bài viết Messenger of Saint Anthony (Sứ giả của Thánh Antôn), cho biết rằng hiện tượng gây ngạc nhiên nhất đã gợi sự tò mò khoa học quan tâm hình ảnh Đức Mẹ Guadalupe, quan tâm cái gì đã được phát hiện trong đồng tử mắt của Đức Mẹ. Năm 1929, Alfonso Gonzales, nhiếp ảnh gia của Đền thờ Guadalupe, sau khi nghiên cứu âm bản phim, thấy rằng cái có vẻ là hình ảnh rõ nét một đàn ông có râu phản ánh ở mắt bên phải. Sau hơn 20 năm, một nhiếp ảnh gia khác của Đền thờ Guadalupe là Carlos Chavez đã tuyên bố rằng ông thấy một hình người trong mắt bên trái và mắt bên phải của Đức Mẹ Guadalupe. Từ năm 1956 tới 1958, Rafael Torija Lavoigner thực hiện 5 cuộc nghiên cứu, dùng các loại kính lúp và kính soi đáy mắt (ophthalmoscopes), ông xác nhận có hình người trong hai mắt của Đức Mẹ.

Hiện tượng lạ như vạy trở nên “giật gân” hơn khi mắt Đức Mẹ được nghiên cứu khi dùng các kỹ thuật tinh vi hơn có nối kết với máy vi tính.

Năm 1979, TS Jose Aste Tousman, một kỹ sư giỏi chuyên ngành vi tính ở Hoa Kỳ, đã đến Mexico. Ông là một trong các nhà nghiên cứu hàng đầu về mắt của Đức Mẹ Guadalupe. Allegri viết rằng công việc của TS Tousman làm trong 23 năm là điều khác thường; ông đã dùng các thiết bị cập nhật hóa và tinh vi nhất, các loại mà NASA vẫn dùng để giải mã hình ảnh chụp qua vệ tinh. TS Tousman phóng to hình ảnh mắt của Đức Mẹ Guadalupe tới 2.500 lần, dùng 25.000 màu để minh họa cho mỗi mm vuông.

Sau khi chọn lọc và xử lý hình ảnh kỹ thuật số, TS Tousman phát hiện toàn cảnh được “chụp” trong mắt của Đức Mẹ Guadalupe. Trong đó có khoảng 11 người. Có một người Mexico ngồi xếp hai chân và tóc dài được tết thành đuôi sam. Kế ông là một người đàn ông lớn tuổi, hói đầu, râu trắng, mũi thẳng, lông mày rậm và dài xuống hai má. Đặc điểm này được xác định là ĐGM Juan Zumarraga. Bên trái là người phiên dịch, tức là Juan Gonzales. Có một ông già có râu và ria, mũi to kiểu người La Mã, gò má cao, mắt sâu và môi nửa khép nửa mở – rõ ràng là người Ấn Độ bản xứ – đang mở khăn choàng khi ông quay mặt về phía ông già. Rõ ràng là Juan Diego, đam những đóa hồng trong khăn choàng cho ĐGM. Cũng có những người khác không xác định gồm cha mẹ, ông bà, và 3 đứa trẻ.

Mắt Đức Mẹ đã “chụp” lại tất cả, vì Đức Mẹ biết sự hạn chế của khoa học kỹ thuật thời đó. Đức Mẹ biết điều này sẽ được phát hiện vài trăm năm sau, khi con người có thể sáng chế các thiết bị tiến bộ.

Sứ điệp của Đức Mẹ Guadalupe là gì qua các phát hiện khoa học kỹ thuật? TS Aste Tousman có phản ánh này. Sự hiện diện của những người không xác định kia có thể là sự nhấn mạnh vào tầm quan trọng của gia đình và các giá trị gia đình. Hai người đàn ông da trắng và những người Ấn Độ là sự hiện diện của các dân tộc, có thể đó là việc cảnh báo về việc chống phân biệt chủng tộc và là lời kêu gọi tình huynh đệ. Phát hiện này là lời mời gọi dùng kỹ thuật để phát triển Lời của Đức Kitô.

Juan Diego đã được chân phước Gioan Phaolô II phong thánh tại Mexico. Con người Ấn Độ khiêm nhường và giản dị này không thể nghĩ rằng Phụ Nữ Đẹp Guadalupe mà ông đã nói chuyện ở đồi Tepayac sẽ có nhiều bí mật khác được phát hiện như ngày nay, dự trữ cho các thế hệ tương lai. Trong cách nghĩ đơn giản của ông, ông không thể hiểu thấu điều này. Đủ để nói rằng ông đã vâng lời và yêu mến Đức Mẹ, Đức Mẹ cũng yêu ông vì ông có tâm hồn giản dị và thanh khiết.

Điều này có thể lạ đới với một khoa học gia, nhưng với tôi, bức ảnh gốc thật kỳ lạ. Nghiên cứu hình ảnh là công việc thú vị của đời tôi. Càng nghiên cứu tôi càng có cảm giác lạ như khi nghiên cứu Khăn liệm Turin. Tôi tin cách giải thích hợp lý tới một mức nào đó. Nhưng không có cách giải thích hợp lý đối với cuộc sống. Người ta có thể chia sự sống thành các nguyên tử, nhưng sau đó thì sao? Ngay cả bác học Einstein cũng chân nhận là CÓ THIÊN CHÚA.

-----------------------------------------

(*) Giáo sư Philip Callahan là khoa học gia xuất chúng, ĐH Florida.

TRẦM THIÊN THU
(Chuyển ngữ từ
all-about-the-virgin-mary.com)

Đời người chiếc lá




Những ngày cuối tháng 10, Đất Thánh các Giáo xứ đông người đi tảo mộ. Bên người thân yêu đang an nghĩ, con cháu, thân nhân thành kính đốt nến thắp nhang, hiệp thông cầu nguyện.

Mỗi chiều, tôi ra Đất Thánh của Giáo xứ cùng mọi người dọn dẹp cỏ rác, phát quang bụi rậm, sữa sang lễ đài, chuẩn bị cho ngày lễ các đẳng linh hồn.

Nhìn những chiếc lá vàng rơi rụng khắp Nghĩa Trang, tôi nghĩ về mùa thu, nghĩ về đời người và chiếc lá.

Nhớ bài thơ của thi sĩ Lưu Trọng Lư:

Em nghe không mùa thu.

Lá thu rơi xào xạc.

Con nai vàng ngơ ngác.

Đạp trên lá vàng khô.

(Tiếng thu)

Màu vàng của lá, màu úa của cỏ, nắng nhạt gió chiều là hình ảnh đặc trưng của mùa thu. Mùa "chịu tang" của những chiếc lá vàng. Ngồi nhìn lá rơi, mỗi chiếc lá chọn cho mình một cách "chia tay". Có những chiếc lá ra đi trong sự quằn quại khổ đau, dùng dằng bịn rịn như thể không muốn lìa cành; có những chiếc lá "hấp hối" loạng choạng buông mình cách nặng nề nghiêng ngã trên mặt đất. Lại có những chiếc lá ra đi cách nhẹ nhàng trong dáng điệu thướt tha buông mình theo gió. Những chiếc lá khác không bàng hoàng hối hả mà chậm rãi, thanh thản, an nhiên rơi mình trên thảm cỏ xanh như thể một bông hoa say trong giấc ngủ yên lành. Một đời lá mong manh, chóng tàn phai rụng xuống. Mới đó, lá còn xanh tươi, mà nay đã úa vàng lìa cành.

Đời người có khác chi một chiếc lá cuối thu. Có những người ra đi trong bấn loạn, hối tiếc, khổ đau, nặng nhọc. Lại có người ra đi về với cội nguồn một cách thanh thản nhẹ nhàng thanh thản. "Lá rụng về cội". Lá rơi bên gốc cây. Lá chờ đợi một quá trình sinh học để trở thành dinh dưỡng nuôi cây. Lá góp thân xác tàn úa để trả ơn cho cây. Đời lá ngắn ngũi mà đầy ý nghĩa nhân sinh.

Nhìn lá vàng rơi, ta nhớ lời Thánh Kinh: "Có thời sinh ra, có thời chết đi" (Gv 3,2). Mỗi loài thụ tạo đều có thời hạn của nó. Đời người như chiếc lá mỏng manh, ngắn ngủi. Chỗ dựa trần gian chẳng an toàn vững chắc.Tiền bạc vật chất, bằng cấp, kiến thức, chức quyền đều chóng tàn phai. Sức khoẻ, sắc đẹp hao mòn rồi rệu rã theo tuổi đời năm tháng.

Nhìn lá vàng rơi, ta nhận ra sự thật cay đắng nhất của đời người là sự chết. Nó chẳng từ ai, chẳng thương tiếc ai. Nó đến bất ngờ làm ta bang hoàng. Phải bỏ lại tất cả mọi thứ ta gắn bó và gom góp suốt đời để ra đi với hai bàn tay trắng. Cái chết của mỗi người là một chuyến đi cuối cùng. Một chuyến đi quyết định và quan trọng. Một chuyến đi vĩnh viễn không bao giờ trở lại. Một chuyến đi một vài tuần về thăm quê nhà, một chuyến đi nghỉ hè đôi ba ngày...tôi đã phải sắp xếp chuẩn bị nhiều ngày, có khi nhiều tuần .... Nhưng tôi đã chuẩn bị được những gì cho chuyến đi cuối cùng và thật quan trọng của cuộc đời tôi? Tôi có nỗ lực để xắp xếp chuẩn bị cho chuyến đi vĩnh viễn và không bao giờ trở lại này không?

Nhìn lá vàng rơi, ta nhớ lời Thánh Vịnh: "Đời sống con người giống như cây cỏ, như bông hoa nở trên cánh đồng, một cơn gió thoảng đủ làm nó biến đi, nơi nó mọc không còn mang vết tích" (Tv 102,15-16). Dù văn minh đến dâu, con người vẫn không thắng nổi cái chết bằng sức mạnh của khoa học kỹ thuật. Giàu nghèo sang hèn, trí thức hay bình dân, văn minh hay lạc hậu ... ai ai rồi cũng phải chết. Đứng trước cái chết, mọi người đều bình đẳng. Sống là chuẩn bị cho con người đi về với cái chết. Suy tư về cái chết là suy tư về sự sống. Chết là một phần của sự sống bỡi lẽ trong sự sống đã có sự chết. Nó là cánh cửa nối liền hai thế giới như cửa sông đưa giòng nước vào nguồn biển rộng. Cứ theo định luật tự nhiên, con người được sinh ra, lớn lên, già đi và chết. Đó là định luật chung của con người. Không ai có thể sống mãi mà không chết. Các vua chúa ngày xưa đã cố công đi tìm thuốc trường sinh bất tử nhưng họ cũng chết. Để sống cách trọn vẹn, phải can đảm chấp nhận sự sống lẫn sự chết.

Đời người ngắn ngủi như chiếc lá như lời Thánh Vịnh:

Đời con là một kiếp phù du,

Loài người Chúa dựng nên thật mỏng manh quá đỗi.

Sống làm người ai không phải chết,

Ai cứu nổi mình thoát quyền lực âm ty ?

(Tv 88,48-49)

Con người không có quyền gì trên sự chết và sự sống. Sống và chết là kỳ công và đều bởi Thiên Chúa. Sự sống là mong manh, thế mà Thiên Chúa lại phải đánh đổi bằng máu của các tiên tri, bằng mạng sống của Con yêu dấu là Chúa Giêsu.

Nhìn lá vàng rơi ta nghĩ về cuộc đời lữ thứ. Xin đừng mưu mô tính toán mà làm gì. Xin đừng chia rẽ và thù ghét làm chi. Cuộc đời này thật ngắn, tiền bạc trên thế gian này nhiều lắm, bàn tay ta có tham mấy cũng chẳng vơ vét hết được. Rồi đến lúc bàn tay xuôi xuống, lạnh cóng, cô đơn, chẳng nắm giữ được gì.

Để có được sự ra đi trong thảnh thơi nhẹ nhàng và đong đầy niềm tin hy vọng ngày mai tươi sáng, ta hãy định nghĩa cuộc đời mình bằng sự "hiện hữu", đừng bao giờ là sự "sở hữu". Ta hãy chọn phương châm "sống với" chứ đừng "sống vì". Thấu cảm được ý nghĩa về cuộc đời thì ta mới nhẹ nhàng, thanh thản ra đi mà không vướng bận, không ưu phiền. Như ai đó đã từng nói:"Ngày ta sinh ra đời, mọi người cười ta khóc. Hãy sống như thế nào để khi ra đi mọi người khóc ta cười".

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Thứ Tư, 2 tháng 11, 2011

Để Khỏi Xuống Luyện Tội


Tháng 11 được Giáo Hội dành để cầu cho các linh hồn nơi luyện ngục và dạy ta: nếu muốn khỏi xuống luyện ngục sau khi chết, thì bao lâu còn sống trên đời, hãy chịu khó làm việc đền tội và ra sức cứu giúp các linh hồn nơi luyện ngục.

Để nhắc nhở ta sốt sắng làm hai việc trên này, ta hãy suy gẫm một chút về 5 mục sau đây: Về tín điều luyện ngục, về những linh hồn phải xuống luyện ngục, về hình khổ luyện ngục, về nhiệm vụ cứu giúp các linh hồn ở luyện ngục, về cách thức cứu giúp họ.

1. Về tín điều luyện ngục


Có luyện ngục! Đó là một tín điều phù hợp với đức công bằng và lòng từ bi của Thiên Chúa.

a/. Công Đồng Vatican II chia Dân Chúa làm ba thành phần: "Trong các môn đệ Chúa Kitô, có những kẻ tiếp tục cuộc hành trình nơi trần thế; có những kẻ đã hoàn tất cuộc sống này và đang được tinh luyện; và có những kẻ được hiển vinh đang chiêm ngưỡng Thiên Chúa trong Ba Ngôi cực thánh. Cả ba thành phần đều hiệp thông với nhau trong cùng một đức mến Chúa yêu người" (LG 49).

b/. Kinh Thánh không dùng tiếng luyện ngục, nhưng cho ta thấy thực tại của luyện ngục, như khi Chúa Giêsu dạy: có những tội được tha ở đời này, và có những tội được tha ở đời sau (Mt 12,32). Và ta thấy rõ: không thể nào được tha trong hỏa ngục, thì hẳn là được tha trong luyện ngục. Và như vậy là có luyện ngục.

c/. Thánh Phaolô cũng bảo: có kẻ được cứu rỗi, nhưng phải qua ngọn lửa (1Cor 3,15), tức là lửa luyện ngục.

d/. Giuđa Macabê khi thắng trận Gorlias, đã quyên tiền gởi về Giêrusalem, xin dâng lễ đền tội cho các lính tử trận, để họ được tha tội (2Mac 12,43-45), thì hẳn là họ ở luyện tội.

e/. Có lạ gì, xưa nay trong Giáo Hội Công giáo, các linh mục cũng như giáo dân vốn năng cầu nguyện và dâng lễ chỉ cho các linh hồn nơi luyện ngục.

Phụng vụ đã đặt lễ các linh hồn vào ngày 2/11, ngay sau lễ Các Thánh; lại dành cả tháng 11 để cầu cho các linh hồn nơi luyện ngục.

2. Những linh hồn nào phải xuống luyện ngục?


a/. Sách Bổn công giáo chúng ta, ở số 123 có hỏi: "Những ai phải vào luyện ngục?" Và ta thưa: "Những người chết khi có ơn nghĩa cùng Chúa, nhưng còn mắc tội nhẹ, hay chưa đền hết hình phạt bởi tội, thì phải vào luyện ngục mà đền cho hết, mới được lên thiên đàng".

Ta biết: mỗi tội ta phạm đều có hình phạt kèm theo (coulpe et peine: tội và vạ). Khi ta xưng tội, thì được khỏi tội, nhưng còn phải đền hình phạt, do linh mục bảo đền một phần, do ta tiếp tục đền sau.

Vậy linh hồn phải xuống luyện là khi chết ở trong tình trạng sạch mọi tội trọng, chỉ có tội nhẹ chưa được tha, hay là những hình phạt bởi tội đã được tha, nhưng chưa đền xong. Cho nên phải vào luyện tội đền cho xong, mới được lên thiên đàng.

b/. Ta cũng thấy Giáo Hội đã trù liệu các phương tiện cần thiết để giúp những người lâm chung được thanh tẩy linh hồn hoàn toàn trong sạch, trước khi từ giã đời này. Cho nên, thường các bệnh nhân nguy tử được chịu 3 bí tích một trật: xưng tội, chịu phép xức dầu, chịu lễ như của ăn đàng; lại được lãnh một ơn đại xá, để thanh toán tất cả các hình phạt bởi tội mà chưa đền xong. Và như vậy, có chết là được lên thiên đàng ngay, khỏi phải qua luyện ngục.

Nhưng trong thực tế, vì lẽ này lẽ nọ, nhiều người lâm chung không biết triệt để lợi dung các phương tiện thanh tẩy của Giáo Hội; nên khi chết, còn phải vào luyện ngục, để đền cho xong.

3. Linh hồn ở luyện ngục phải chịu những hình khổ gì?

a/. Các linh hồn nơi luyện ngục phải khổ nhất là không được chiêm ngưỡng Thiên Chúa, là nguồn hạnh phúc của họ. Ở đời này, người ta bị bao vui thú quyến rũ, mà những người lành còn khát khao Thiên Chúa, như thánh Augustinô dạy: "Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên chúng con cho Chúa, và tâm hồn chúng con thao thức không ngừng, cho tới khi được nghỉ yên trong Chúa" (Fecisti nos ad Te, Domine, et inquietum est cor nostrum, donec requiscat in Te) (Tự Thuật I,1). Huống chi, khi ở luyện ngục, người ta không còn bị cái gì thu hút nữa, chỉ còn một mình Thiên Chúa, thì sự khao khát đó sẽ tới mức nào!

b/. Đàng khác, các linh hồn còn phải chịu nóng nảy, tối tăm, khổ cực gần như ở hỏa ngục vậy. Vì thế, trong kinh nguyện Thánh Thể thứ I, Giáo Hội cầu cho các linh hồn ấy rằng: "Lạy Chúa, chúng con xin Chúa thương ban cho các linh hồn ấy và tất cả những người nghỉ an trong Chúa Kitô được vào nơi mát mẻ, ánh sáng và bình an".

c/. Có điều rất an ủi các linh hồn ấy, là các ngài biết mình kính mến Chúa và biết Chúa thương yêu mình. Lại xác tín rằng: các hình khổ đó chỉ nhằm mục đích thanh luyện mình để được hoàn toàn trong sạch mà thôi. Cho nên các ngài không buồn chán, mà còn ước ao chịu khổ để chóng được lên thiên đàng. Đồng thời các ngài ước ao chúng ta giúp đỡ lắm.

4. Ta có phải giúp đỡ các linh hồn nơi luyện ngục không?


a/. Giúp đỡ các linh hồn nơi luyện ngục là giữ luật buộc ta phải thi hành mầu nhiệm "các thánh cùng thông công". Thánh Phaolô đã dạy: "Trong một thân mình, một chi thể đau, thì các chi thể khác cũng phải đau lây; một chi thể được vinh dự, thì các chi thể khác cũng được hưởng nhờ" (1Cor 12,26). Việt Nam ta cũng có câu: "Một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ".

b/. Cứu giúp các linh hồn nơi luyện ngục còn là một nghĩa vụ công bằng, đối với cha mẹ, bà con, ân nhân, bạn hữu và những kẻ đã vì ta mà phải xuống luyện ngục.

c/. Cứu giúp các linh hồn nơi luyện ngục, là các chi thể đau khổ của Chúa Kitô, tức là giúp Chúa, như chính Ngài đã dạy: "Mỗi khi các ngươi làm các việc ấy cho một kẻ bé mọn nhất trong các anh em Ta, là các ngươi đã làm cho chính mình Ta" (Mt 25,40). Và ta biết: làm cho Chúa thì được trả công bội hậu dường nào. Chúa lại đã cho ta một quy tắc tốt: "Các con muốn người ta làm cho các con thế nào, thì các con hãy làm cho người ta như vậy" (Mt 7,12). Nhà nho cũng nói: "Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân": điều gì mình không muốn người ta làm cho mình, thì cũng đừng làm cho người ta". Ta giúp các linh hồn, thì các linh hồn cũng sẽ giúp lại ta.

5. Ta có thể giúp các linh hồn ấy cách nào?

Có 4 cách này:


a/. Một là hãy năng cầu nguyện cho các linh hồn ấy, hợp với kinh nguyện của Giáo Hội, là trong lễ an táng, lễ giỗ 30 ngày, 100 ngày và hằng năm.

b/. Hai là năng dâng các việc lành của ta chỉ cho họ như: ăn chay, hãm mình, bố thí, chu toàn phận sự, chịu các đau khổ gặp phải hằng ngày v.v...

c/. Ba là cách tốt nhất, là dâng lễ và xin lễ chỉ cho họ.

d/. Bốn là lãnh ơn xá chỉ cho họ. Ta biết: mỗi ngày ta có thể lãnh rất nhiều tiểu xá, gắn liền với các việc lành ta làm; nhưng phải có ý lãnh tất cả các ơn xá đó khi đọc kinh dâng ngày, lúc thức dậy, có ý chỉ cho các linh hồn.

Còn ơn đại xá, thì mỗi ngày, chỉ lãnh được một mà thôi, tức là phải làm việc có ơn đại xá, với 3 điều kiện, là xưng tội, rước lễ và cầu theo ý Đức Giáo Hoàng.

- Xưng tội, thì chỉ cần xưng 15 ngày một lần, đủ cho được lãnh đại xá mỗi ngày, miễn là ta làm việc có ơn xá trong tình trạng sạch tội trọng.

- Rước lễ, thì làm chính ngày mình muốn lãnh ơn đại xá.

- Cầu theo ý Đức Giáo Hoàng là đọc 1 kinh Lạy Cha và 1 kinh Tin Kính, chỉ cho Đức Giáo Hoàng, cũng chính ngày mình muốn lãnh ơn đại xá.

- Ta biết: giá trị ơn đại xá là tha hết các hình phạt đáng chịu vì tội đã phạm và đã được tha. Cho nên một linh hồn nào ở luyện ngục, mà được nhờ một ơn đại xá, thì được lên thiên đàng ngay lập tức.

…. Vậy trong tháng 11 này, ta hãy sốt sắng cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện ngục và thúc giục giáo hữu ta làm như vậy nữa.


Vì cách tốt nhất để dọn mình chết lành và chết "được lên thiên đàng thẳng rẵng", như thánh Dũng-Lạc đã ước ao, là khi còn sống ở đời này, hãy làm việc đền tội nhiều và hãy hết sức cứu giúp các linh hồn ở luyện ngục, bằng các việc lành phúc đức. Đó là mua chuộc nhiều bạn hữu, để khi ta chết, họ "đón ta vào cung điện đời đời", như Chúa đã dạy (Lc 16,9).

Chớ gì được như vậy!

Đức Cha cố Micae Nguyễn Khắc Ngữ

Tháng Các Linh Hồn - Suy Niệm


Lc 23,33-34.39-43

Giáo Hội Công Giáo dành trọn tháng Mười Một để cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện ngục. Họ là những người thân của chúng ta, hoặc cũng có thể là những người mà chúng ta không biết. Nhưng mọi người đều có chung bổn phận là cầu nguyện cho những người đã qua đời. Những linh hồn nơi Luyện Ngục là những linh hồn thánh thiện, nhưng để được vào Thiên Đàng, họ còn cần phải thanh tẩy cho trong sạch vẹn tuyền.


1. Các linh hồn cần phải thanh luyện

Thiên Chúa là Đấng Thánh (Tv 99,5), nên những người đến với Chúa cũng phải thánh thiện cách trọn vẹn. Những linh hồn mà chúng ta cầu nguyện hôm nay là những người sống trong ơn nghĩa Chúa và chết trong ơn nghĩa Chúa. Nhưng vì là con người yếu đuối nên không tránh khỏi những khiếm khuyết, cho nên các ngài cần phải tẩy rửa trước khi vào hưởng Tôn Nhan Chúa. Sau khi lìa khỏi xác, linh hồn không còn lập công được nữa, mà chỉ còn cách trông chờ những người trên trần gian cầu nguyện cho mà thôi.

Nhờ việc lành phúc đức của Giáo Hội tại thế, các linh hồn “nơi” luyện ngục mới mau chóng nên tinh tuyền để diện kiến Tôn Nhan ( Ga 5,37 ). Tức là các ngài đã mặc áo cưới (Mt 22, 12) để dự tiệc cưới Con Chiên (Kh 19,8-9). Về việc phải thanh luyện nơi luyện ngục, có lẽ không ai tránh khỏi - trừ Đức Mẹ Maria Vô Nhiễm. Nói như thế có người thắc mắc : trong bài Tin Mừng vừa nghe, Chúa Giêsu hứa với anh trộm lành : Ngay hôm nay, anh sẽ ở trên Thiên Đàng với tôi (c. 43).

Vậy ta phải hiểu câu này như thế nào? Theo quan niệm của người Do Thái thời Chúa Giêsu thì Thiên Đàng là nơi những người công chính chờ ngày phục sinh. Tương tự như La-da-rô sau khi chết được các thiên thần đem vào lòng Áp-ra-ham (Lc 16,22). Phải chăng Thiên Đàng theo quan niệm của người Do Thái tương tự như “Luyện Ngục” mà những người công chính cần phải thanh luyện? Dù thế nào chăng nữa, linh hồn nào chưa xứng đáng thì cần phải thanh tẩy. Vì cần phải thanh tẩy, nên các linh hồn cần những lời cầu nguyện của Hội Thánh.

2. Hội Thánh cùng thông công

Đây là điều mà chúng ta hằng tuyên xưng trong Kinh Tin Kính. Có nghĩa là các thành phần của Hội Thánh: những người Tại Thế, những người trong Luyện Ngục, các thánh ở trên Thiên Quốc đều liên đới với nhau. Liên đới trong hạnh phúc cũng như trong đau khổ. Quan trọng là ta có cảm nhận được hay không!

Những linh hồn trong Luyện Ngục ngày đêm họ đang trông chờ lời cầu nguyện của chúng ta. Chúng ta có luôn ý thức điều này không? Những việc lành chúng ta làm sẽ giúp họ đền tội, thanh tẩy tâm hồn để chóng vào hưởng Tôn Nhan Chúa. Khi đã được vào Thiên Đàng, các ngài lại cầu bầu cho chúng ta. Việc cầu nguyện cho các linh hồn nơi Luyện Ngục là một việc thánh thiện, như Công Đồng Vaticanô trong hiến chế Mầu Nhiệm Giáo Hội đã viết: “Giáo Hội Lữ Hành hết lòng kính nhớ, dâng lời cầu nguyện cho những người đã chết, và cầu nguyện cho họ được giải thoát khỏi tội lỗi là một việc lành thánh...” Với Mầu nhiệm Hội Thánh Cùng Thông Công, việc cầu nguyện cho các linh hồn nơi Luyện Ngục là một bổn phận của mỗi người chúng ta. Hơn nữa, đối với người Công Giáo Việt Nam nói riêng, và với người Công Giáo Á Châu nói chung còn là việc thi hành chữ “Hiếu” với ông bà tổ tiên.

3. Tháng 11 là tháng hiếu thảo

Trong một lớp Dự Tòng, có một anh bạn học viên theo đạo Ông Bà tỏ ra rất băn khoăn, lo lắng. Hỏi ra mới biết. Anh ta sợ rằng, khi theo đạo Công Giáo thì bất hiếu với tổ tiên. Vì người Công Giáo không cúng cho tổ tiên, nên ở dưới Suối Vàng ông bà tổ tiên bị bỏ đói!Phải chăng người Công Giáo bất hiếu với những người đã qua đời?

Ta có thể trả lời ngay rằng, người Công Giáo không những không bất hiếu với tổ tiên, mà trái lại còn rất có hiếu với những người đã qua đời. Nhưng cách hiếu thảo của người Công Giáo thì khác. Trong một năm, Giáo Hội dành hẳn một tháng để cầu cho những người quá cố. Rồi hằng ngày người Công Giáo đều cầu nguyện cho những người đã khuất.

Ta cứ thử làm một phép tính xem, trên Thế giới mỗi ngày có bao nhiêu Thánh Lễ được cử hành. Mà trong mỗi thánh lễ đều cầu nguyện cho những linh hồn nơi Luyện Ngục! Ngoài Thánh Lễ ra, còn bao nhiêu việc Phụng Vụ và các việc đạo đức khác. Những việc này đều thông công với các linh hồn nơi Luyện Ngục.Không còn nghi ngờ gì nữa, người Công Giáo rất có hiếu với những người đã khuất.

Đặc biệt trong ngày lễ cầu cho các linh hồn, chúng ta càng ý thức hơn về việc cầu nguyện cho các linh hồn trong Luyện Ngục, trong đó có thể có cả người thân của chúng ta. Xin Chúa, nhờ công nghiệp của Chúa Giêsu, cùng với lời bầu cử của Đức Mẹ và các thánh, giúp cho các linh hồn nơi Luyện Ngục được tinh tuyền để các ngài mặc áo cưới mà vào dự tiệc cưới của Con Chiên. A men.